Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất có xu hướng tăng
Trong quý 3/2024, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 0,42% so với quý trước và tăng 3,63% so với cùng kỳ năm 2023, trong đó chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,23% và tăng 0,84%; chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,46% và tăng 3,87%; chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho xây dựng giảm 0,18% và tăng 1,05%.
Tính chung 9 tháng năm 2024, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,77%; dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,9%; dùng cho xây dựng tăng 0,2%.
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất 9 tháng năm 2024 tăng so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do các nhóm nguyên nhiên vật liệu thiết yếu trong sản xuất tăng, cụ thể: Trong nhóm nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, chỉ số giá nhóm điện sản xuất tăng 7,27%; sản phẩm chăn nuôi tăng 6,27%; sản phẩm nhân và chăm sóc cây giống lâu năm tăng 4,81% do nhu cầu tăng; sản phẩm cây lâu năm tăng 4,05%.
Trong nhóm nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo, chỉ số giá nhóm sản phẩm điện tử, máy vi tính, quang học tăng 10,47%; sản phẩm chế biến thực phẩm tăng 7,58%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,78%; thiết bị điện tăng 3,61%; sản phẩm khai khoáng khác tăng 3,36%; nước tự nhiên khai thác tăng 3,11%.
Trong nhóm nguyên nhiên vật liệu dùng cho xây dựng, chỉ số giá nhóm dịch vụ lắp đặt hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước tăng 6,12%; thiết bị điện chiếu sáng tăng 5,95%; chỉ số giá nhóm điện sản xuất tăng 5,54%; đá, cát, sỏi, đất sét tăng 5,08%; dịch vụ thiết kế chuyên dụng tăng 4,91%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 4,73%; dịch vụ xây dựng chuyên dụng khác tăng 3,58%; dịch vụ hoàn thiện công trình xây dựng tăng 3,5%.
Chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa giảm theo thị trường thế giới
Trong khi Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất có xu hướng tăng trong quý 3/2024, thì các chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa lại giảm theo thị trường thế giới.
Theo đó, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa giảm 0,11% so với quý trước và giảm 0,43% so với cùng kỳ năm 2023; chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 0,33% và giảm 0,71%; tỷ giá thương mại hàng hóa giảm 0,44% và tăng 0,28%.
Tính chung 9 tháng năm 2024, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa giảm 1,44% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa giảm 1,73%; tỷ giá thương mại hàng hóa tăng 0,29%.
Nguyên nhân chính khiến chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa giảm do thị trường hàng hóa thế giới 9 tháng năm 2024 tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chính trị, kinh tế - xã hội của các quốc gia. Các điểm nóng và các vấn đề an ninh phi truyền thống chưa được cải thiện mà có xu hướng lan rộng.
Kinh tế thế giới có dấu hiệu khởi sắc nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn còn chậm, không đồng đều, tiếp diễn tình trạng phân mảnh địa kinh tế và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Xu thế bảo hộ thương mại gia tăng trong khi cầu tiêu dùng thế giới chưa được cải thiện đáng kể ảnh hưởng đến xuất, nhập khẩu, cung cầu và giá cả hàng hóa.
Song xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng và điều chỉnh chính sách của các nước lớn sẽ tạo cơ hội cho các nước Đông Nam Á thu hút nguồn lực để phát triển...
Trong khi đó, lạm phát toàn cầu đang hạ nhiệt. Ngày 18/9/2024, lần đầu tiên sau hơn 4 năm, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) giảm lãi suất 0,5 điểm phần trăm xuống còn 4,75%-5%/năm, bắt đầu chu kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ trong bối cảnh cả bức tranh việc làm và lạm phát của Mỹ suy giảm.
Trên thị trường thế giới, giá đô la Mỹ (USD), giá vàng thời gian qua có nhiều biến động ảnh hưởng đến giá các mặt hàng kim loại quý, kim loại công nghiệp và các loại hàng hóa xuất, nhập khẩu thanh toán bằng USD. Giá xăng dầu chịu tác động của các yếu tố địa chính trị, kinh tế. Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ và các nước đồng minh (OPEC+) vẫn tiếp tục chính sách cắt giảm sản lượng dầu để cân bằng thị trường dầu mỏ.
Tính đến ngày 30/9/2024, giá dầu Brent bình quân quý 3/2024 đạt 78,67 USD/thùng, giảm 7,41% so với quý trước và giảm 8,44% so với cùng kỳ năm 2023. Tại Mỹ, giá bình quân quý 3/2024 so với cùng kỳ năm trước của một số mặt hàng như sau: Giá bắp giảm 19,15%; giá cà phê tăng 57,62%; giá lúa mỳ giảm 10,17%; giá thóc giảm 5,49%.
Đối với thị trường hàng hóa trong nước, do chịu tác động bởi thị trường thế giới, thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm ảnh hưởng đến quy mô sản xuất trong nước. Hầu hết giá nhập khẩu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trong nước đều giảm.
Giá một số nguyên liệu nhập khẩu 9 tháng năm 2024 giảm sâu so với cùng kỳ năm trước như: Giá nhập khẩu than đá giảm 25,86%; giá nhập khẩu phân bón giảm 16,39%; giá nhập khẩu lúa mỳ giảm 13,92%; giá nhập khẩu dầu mỡ động thực vật giảm 13,87%.
Bên cạnh đó, một số mặt hàng nhập khẩu có giá tăng: Giá nhập khẩu khí đốt hóa lỏng tăng 16,01%; giá nhập khẩu cao su nguyên liệu tăng 3,99%; giá nhập khẩu hàng rau quả tăng 3,23%.

Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất trong quý 3 và 9 tháng năm 2024 đều tăng so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do các nhóm nguyên nhiên vật liệu thiết yếu trong sản xuất tăng. 

