Investigation of the effectiveness of polypropylene fibers on the strength of foamed concrete utilizing industrial waste

Nghiên cứu hiệu quả của sợi polypropylene đến cường độ của bê tông bọt sử dụng chất thải công nghiệp

Bê tông bọt là vật liệu nhẹ, tiềm năng và được phát triển như một vật liệu thân thiện với môi trường. Việc tái sử dụng các chất thải công nghiệp trong sản xuất vật liệu xây dựng một cách hiệu quả là rất cần thiết.

Ngày nhận bài: 20/9/2025; Ngày sửa bài: 18/10/2025; Ngày chấp nhận đăng: 18/11/2025

http://doi.org/10.64588/jc.09.11.2025

Tóm tắt

Bê tông bọt là vật liệu nhẹ, tiềm năng và được phát triển như một vật liệu thân thiện với môi trường. Việc tái sử dụng các chất thải công nghiệp trong sản xuất vật liệu xây dựng một cách hiệu quả là rất cần thiết. Nghiên cứu này thiết kế cấp phối bê tông bọt gốc xi măng (hỗn hợp chất kết dính gồm xi măng và xỉ lò cao) có chứa cốt liệu mịn (bột đá), với khối lượng thể tích khô là D1100 và cấp cường độ nén B5.0; đồng thời đánh giá ảnh hưởng của sợi polypropylene (PP) đến tính chất cơ học của bê tông bọt.

Bốn cấp phối bê tông bọt đã được kiểm nghiệm trong nghiên cứu này: một mẫu không có thành phần sợi PP (đối chứng) và ba mẫu với hàm lượng sợi PP 0,2%, 0,4%, và 0,6% xi măng. Kết quả cho thấy việc bổ sung thành phần sợi PP vào bê tông bọt sử dụng chất thải công nghiệp (bột đá và xỉ lò cao) không chỉ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật mà còn góp phần giảm phát thải CO₂. Hàm lượng sợi PP khoảng 0,35% được xác định là tối ưu, giúp cải thiện đáng kể cường độ cơ học của bê tông bọt.

Từ khóa: Bê tông bọt; sợi polypropylene (PP); bột đá; xỉ lò cao nghiền mịn; cường độ nén; cường độ kéo khi bửa; vật liệu thân thiện với môi trường.

Abstract

Foamed concrete is a promising lightweight material that is being developed as an environmentally friendly solution. In the context of the increasing demand for effective reuse of industrial waste in construction materials, this study focuses on designing a cement - based foamed concrete mix (with a binder composed of cement and ground granulated blast - furnace slag) incorporating fine aggregates (stone powder). The target properties of the mix were a dry density of D1100 and a compressive strength grade of B5.0. Additionally, the study evaluates the effect of polypropylene (PP) fibers on the mechanical properties of foamed concrete. Four mix proportions were prepared and tested, including one control sample without PP fibers and three samples containing PP fibers at 0,2%, 0,4%, and 0,6% by cement weight. The results indicate that incorporating PP fibers into foamed concrete made with industrial waste materials (stone powder and slag) not only meets technical requirements but also contributes to CO₂ emission reduction. A PP fiber content of approximately 0,35% was determined to be optimal, providing a significant improvement in the mechanical strength of the foamed concrete.

Keywords: Foamed concrete; polypropylene  fiber (PP); stone powder; ground granulated blast furnace slag (GGBFS); compressive strength; splitting tensile strength; environmentally friendly material.

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, bê tông bọt đã trở thành một vật liệu đầy hứa hẹn cho nhiều mục đích kết cấu như: cải tạo nền đất yếu [9], [7]; giải pháp sử lý nền dạng sandwich cho bản móng [6]; sàn công nghiệp [9]; đường cao tốc cũng như các ứng dụng kỹ thuật tàu điện ngầm [20], [8]; làm vật liệu xử lý hư hỏng kết cấu [21]. Xi măng là thành phần chính trong hỗn hợp chất kết dính trong bê tông bọt. Sản xuất xi măng Portland hiện chiếm khoảng 8% tổng lượng phát thải CO₂ toàn cầu [4]. Do đó, việc thay thế một phần xi măng bằng các vật liệu kết dính bổ sung (SCM) như tro bay, xỉ lò cao nghiền mịn, bột thủy tinh thải, tro nhiên liệu dầu cọ, bột đá vôi và đất sét nung đang được coi là một giải pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu tác động môi trường [1],[11]. Cốt liệu mịn trong bê tông bọt thường là cát mịn. Nhưng cát tự nhiên dùng trong xây dựng đang càng ngày trở nên khan hiếm. Do vậy, việc thay thế cốt liệu mịn (cát) trong bê tông bọt là rất cần thiết.

Trong khi đó, bột đá là chất thải từ ngành công nghiệp chế biến đá, khai thác khoáng sản. Chất thải này gây ô nhiểm môi trường rất lớn, cần được giải quyết kịp thời. Các nghiên cứu cho thấy việc sử dụng bột đá trong bê tông bọt là khả thi, với vai trò thay thế một phần hoặc toàn bộ cốt liệu mịn, giúp cải thiện một số tính chất và mang lại lợi ích kinh tế, môi trường. Tuy nhiên, cần cân nhắc tỷ lệ thay thế hợp lý để tối ưu hóa cường độ nén, khả năng làm việc và các đặc tính khác của bê tông bọt. Việc tận dụng tất cả các nguồn phế thải này làm nguyên liệu cho sản xuất bê tông bọt vừa góp phần bảo vệ môi trường, vừa mang lại hiệu quả kinh tế.

Bê tông bọt là một trong những loại vật liệu tiềm năng nhờ trọng lượng nhẹ, khả năng cách âm, cách nhiệt và chống cháy tốt. Tuy nhiên, khi mật độ bọt càng gia tăng thì cường độ chịu nén, cường độ uốn của gạch bê tông bọt càng giảm và dễ bể vỡ gây khó khăn trong công tác thi công cũng như hoàn thiện kiến trúc công trình. Một trong những hướng nghiên cứu để nâng cao khả năng chịu lực của bê tông bọt là bổ sung các loại sợi gia cường. Trong đó, sợi polypropylene (PP) có ưu điểm: Nhẹ, bền, kháng hóa chất, giá thành thấp và ít ảnh hưởng đến tính công tác của hỗn hợp [20]. Nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước đã chứng minh sợi PP giúp hạn chế nứt do co ngót, tăng độ dẻo dai và cải thiện cường độ kéo của bê tông nhẹ. Đáng chú ý hơn cả là nghiên cứu của Nguyễn Thị Mùi năm 2022 [12] về ảnh hưởng của hàm lượng sợi PP lên các đặc tính kỹ thuật của bê tông bọt. Nghiên cứu đó đã sử dụng tro bay và cát, tất cả cấp phối, thành phần các vật liệu đều có khối lượng khác nhau. Nghiên cứu đó đã chưa chỉ ra được hàm lượng sợi PP tối ưu.

Mặt khác, trong thực tế, không có phương pháp tính toán/thiết kế cấp phối để đạt được các đặc tính mục tiêu của bê tông bọt. Tuy nhiên, đã có một số phương pháp thiết kế cấp phối gần đúng đã được đề xuất như: Lượng nước yêu cầu, hàm lượng bọt, hàm lượng chất kết dính để xác định khối lượng thể tích ướt mục tiêu [2], [14].

Tóm lại, ta thấy rằng nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã nghiên cứu về cấp phối cũng như về hiệu quả việc sử dụng sợi PP cho bê tông bọt sử dụng chất thải công nghiệp. Tuy nhiên chưa có công bố nào về hiệu quả của sợi PP cho bê tông bọt sử dụng bột đá thay thế hoàn toàn cho cốt liệu mịn. Do đó bài báo này nghiên cứu thiết kế cấp phối bê tông bọt gốc xi măng sử dụng bột đá, xỉ lò cao nghiền mịn có bổ sung cốt sợi PP; qua đó đánh giá hiệu quả hàm lượng sợi PP đến tính công tác, khối lượng thể tích, cường độ nén và cường độ kéo khi bửa của bê tông bọt. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần khẳng định khả năng ứng dụng của bê tông bọt gia cường sợi PP kết hợp vật liệu phế thải công nghiệp, mở ra hướng phát triển vật liệu xây dựng nhẹ, bền vững và thân thiện môi trường tại Việt Nam.

2. Nghiên cứu thực nghiệm

2.1. Vật liệu thí nghiệm

Các vật liệu được dùng trong nghiên cứu gồm: Xi măng Poóc lăng PC40 đạt yêu cầu TCVN 2682:2020, khối lượng riêng 3,14 g/cm³, độ mịn Blaine 3900 cm²/g; xỉ lò cao nghiền mịn (S95) nguồn từ Nhà máy Thép Hòa Phát - Dung Quất có khối lượng riêng 2,89 g/cm³, bề mặt riêng 5332 cm²/g, độ hoạt tính so với xi măng 82,5%; bột đá nguồn từ làng đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng) có thành phần chủ yếu là CaCO₃ và mô đun độ lớn 1,58; phụ gia siêu dẻo Lotus-339 gốc polycarboxylate, giảm nước cao, đạt ASTM C494 loại F; Chất tạo bọt HD_Foam là hỗn hợp hóa chất tổng hợp và protein hữu cơ, khối lượng thể tích bọt 56 kg/m³ (pha loãng 1:30); sợi polypropylene (PP) đường kính 0,03 mm, chiều dài 6 - 12 mm, khối lượng riêng 0,91 g/cm³, cường độ kéo > 500 MPa, độ dãn dài khi đứt 15 - 20%; nước máy sạch đạt TCVN 4506:2012.

2.2. Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm

Các thiết bị và dụng cụ chính phục vụ cho thí nghiệm gồm: Bàn đo chảy vữa theo Tiêu chuẩn ASTM C230/C203M; máy trộn bê tông cưỡng bức trục ngang; máy tạo bọt trước; khuôn đúc mẫu lập phương (15 x 15 x 15) cm và khuôn hình trụ DxC (15 x 30) cm; cân độ chính xác đến ±1 gam; đồng hồ bấm giây đo đến ±1 s; ống đong độ chính xác ±1 mL; thước đo với độ chính xác ±0.5 mm.

2.3. Cấp phối mẫu và nội dung thí nghiệm

Các cấp phối được thiết kế nhằm đạt khối lượng thể tích D1100 và cấp cường độ nén B5.0 theo TCVN 9029:2017, tức là khối lượng thể tích khô nằm trong khoảng 1051 đến 1150 kg/m3 và cường độ chịu nén trung bình không nhỏ hơn 7 Mpa. Dựa trên các căn cứ và mục tiêu trên, thông qua một chiến lược thí nghiệm cơ sở về lựa chọn loại và lượng phụ gia hóa học hợp, các cấp phối nghiên cứu lựa chọn để thực hiện thí nghiệm như ở Bảng 1. Cấp phối đối chứng PP.00 có hàm lượng sợi là 0%. Để nghiên cứu hiệu quả của sợi PP, chúng tôi đã đưa ra 3 hàm lượng sợi (0,2%, 0,4% và 0,6% so với xi măng). Lượng bột khí phải thay đổi sao cho phụ hợp với tính công tác mục tiêu thông qua giá trị độ chảy xòe là (280 ± 20) mm.

Các mẫu được chế tạo theo trình tự: Chất tạo bọt HD_Foam được pha loãng, đánh bọt bằng thiết bị chuyên dụng để tạo bọt ổn định; xi măng, xỉ, bột đá, phụ gia và nước được trộn đều để tạo vữa nền; bọt được trộn vào vữa nền, sau đó bổ sung sợi PP theo tỷ lệ thiết kế; hỗn hợp được rót vào khuôn để đúc mẫu; cuối cùng mẫu được bảo dưỡng trong phòng ẩm (27 ± 2 °C, RH > 95%) cho đến tuổi thí nghiệm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện các thí nghiệm: Độ chảy, khối lượng thể tích, cường độ nén và cường độ kéo khi bửa.

Bảng 1. Thành phần cấp phối của các hỗn hợp bê tông bọt (kg/m3).

 

TT

Cấp phối

Thành phần (Kg)

Khối lượng thể tích

ướt lý thuyết DLT (kg/m3)

Xi

S95

Bột

đá

Nước

Phụ

gia

Bọt

khí

Sợi

PP

1

PP.00

582

103

254

175

3.08

28.18

0

1145.26

2

PP.02

582

103

254

175

3.08

28.12

1.164

1146.36

3

PP.04

582

103

254

175

3.08

28.06

2.328

1147.47

4

PP.06

582

103

254

175

3.08

28.00

3.492

1148.57

3. Kết quả và thảo luận

- Dung dịch tạo bọt gồm hỗ hợp chất tạo bọt và nước với tỷ lệ chất tạo bọt/nước là 1:30 được tạo ra theo công nghệ tạo bọt trước bằng máy tạo bọt với áp suất khí nén là 4 bar. Bọt tạo ra theo công nghệ tạo bọt trước. Kết quả xác định được khối lượng thể tích của bọt là 56 kg/m3.

- Kết quả đo độ chảy thể hiện ở Hình 3.1 cho thấy, độ chảy của các cấp phối nằm trong khoảng 260 - 285 mm, đáp ứng yêu cầu (280 ± 20 mm) theo ASTM C230. Kết quả cũng cho thấy, khi tăng hàm lượng sợi PP từ 0,2%, 0,4% và 0,6% thì mức độ giảm độ chảy xòe của bê tông bọt có sợi so với cấp phối đối chứng (không sợi) tương ứng là 0,35%, 1,5% và 4,2%. Đối với hỗn hợp bê tông PP.02 và PP.04 tốc độ giảm độ chảy không đáng kể, tuy nhiên khi tăng hàm lượng sợi lên 0,6% thì tốc độ giảm độ chảy của bê tông tăng lên mạnh hơn. Điều này cho thấy, khi hàm lượng PP tăng lên 0,6% thì hỗn hợp có xu hướng kém đồng nhất do sự phân tán sợi chưa đều, gây hiện tượng vón cục cục bộ.

- Kết quả khối lượng thể tích ướt lý thuyết của hỗn hợp bê tông bọt được tính từ cấp phối (DLT), khối lượng thể tích ướt thực tế được xác định thông qua cân đo hỗn hợp bê tông bọt sau khi trộn (Df) và khối lượng thể tích khô được xác định từ khối lượng và thể tích của3 viên mẫu thử hình trụ kích thước (150 x 300) mm ở độ tuổi 28 ngày. Khối lượng thể tích của các loại bê bọt được thống kê như ở Bảng 2 và biểu diễn dưới dạng đồ thị như ở Hình 3.2. Kết quả cho thấy:

+ Khối lượng thể tích ướt lý thuyết của các hỗn hợp bê tông gần như tương đương nhau trong trường hợp có và không có sợi PP, cụ thể: Nhỏ nhất 1145.26 kg/m3 (PP.00) và lớn nhất là 1148.57 kg/m3 (PP.06), sự chênh lệnh chỉ là 0,29%. Điều này là do đối với các cấp phối này có khối lượng xi măng, S95, bột đá và nước như nhau chỉ khác nhau về sợi PP và bọt, tuy nhiên do khối lượng thể tích của 2 loại này rất nhỏ do đó không ảnh hưởng đến khối lượng thể tích ướt lý thuyết;

+ So khối lượng thể tích ướt lý thuyết thì khối lượng thể tích ướt của hỗn hợp bê tông bọt (cho các cấp phối có sợi và không sợi) đều nhỏ hơn 4%. Trong thực tế, tùy thuộc vào loại cấp phối thì khi trộn bê tông sẽ có hiện tượng cuốn khí (4 ÷ 7)% theo thể tích. Do vậy, khối lượng thể tích ướt của hỗn hợp bê tông bọt chỉ giảm 3% là kết quả của 2 quá trình đối nghịch nhau gồm: Hiện tượng giảm thể tích do lượng bọt bị phá vỡ do quá trình trộn và hiện tượng tăng thể tích do hiện tượng cuốn khí trong quá trình trộn. Điều này cho thấy hỗn hợp bê tông bọt trong nghiên cứu này có tính ổn định tốt do tỷ số Df/DLT ≈ 0,97 tiệm cận 1.

+ Khối lượng thể tích khô của bê tông bọt giảm khoảng 3% so với khối lượng thể tích ướt của hỗn hợp bê tông bọt của tất cả các cấp phối. Kết quả này cho thấy việc thêm sợi PP với các hàm lượng nghiên cứu nhằm cải thiện khả năng chịu kéo không ảnh hưởng đến cấu trúc bọt trong ma trận bê tông bọt.                

Bảng 2. Thống kê khối lượng thể tích của các loại bê tông.

Loại bê tông

Khối lượng thể tích ướt lý thuyết DLT (kg/m3)

Khối lượng thể tích ướt Df (kg/m3)

Khối lượng thể tích khô D (kg/m3)

PP.00

1145.26

1100.00

1063.00

PP.02

1146.36

1101.36

1064.97

PP.04

1147.47

1102.48

1065.13

PP.06

1148.57

1102.91

1067.96

- Cường độ chịu nén của bê tông bọt là giá trị cường độ chịu nén trung bình cộng của 3 viên mẫu thử lập phương có kích thước (150 x 150 x 150) mm ở tuổi 7, 14 và 28 ngày. Kết quả thí nghiệm cường độ nén được biểu diễn dưới dạng đồ thị như ở Hình 3.3. Kết quả cho thấy:

+ Đối với bê tông bọt không sử dụng sợi PP cường độ chịu nén ở tuổi 7 và 14 ngày đạt cường độ tương ứng là 94% và 97% so với cường độ ở 28 ngày. Tốc độ phát triển cường độ nhanh trong 7 ngày đầu cho thấy phản ứng thủy hóa của hệ chất kết dính (xi măng - xỉ ) diễn ra hiệu quả. Cường độ ở 14 ngày gần đạt giá trị ổn định của 28 ngày (97%), chứng tỏ quá trình đóng rắn của bê tông bọt gần như hoàn tất sớm và ảnh hưởng của xỉ ở giai đoạn đầu là tích cực nhờ hiệu ứng điền đầy. Cường độ của bê tông PP.00 ở tuổi 28 ngày đạt 8,4 MPa lớn hơn 20% so với cường độ yêu cầu 7 Mpa đối với loại bê tông bọt D1100 theo TCVN 9029:2017, cho thấy tính phù hợp của cấp phối và khả năng chịu lực tốt của bê tông bọt được chế tạo.

 + Đối với các mẫu dùng sợi PP cường độ chịu nén ở các thời điểm thí nghiệm đều lớn hơn mẫu không dùng sợi. Điều này có nghĩa là sợi PP với các tỷ lệ đã dùng trong nghiên cứu này góp phần cải thiện cường độ chịu nén. Đặc biệt sợi PP góp phần cải thiện cường độ ở 7 ngày tuổi so với mẫu đối chứng, cụ thể đối với mẫu không dùng sợi cường độ bằng khoảng 80%, 90% so với các mẫu PP.02, PP.04.

+ Khi tăng hàm lượng sợi từ 0,2% (PP.02) lên 0,4% (PP.04) và 0,6% (PP.06) thì cường độ chịu nén có khuynh hướng giảm. Cụ thể ở thời điểm 28 ngày cường độ chịu nén của bê tông PP.02 lớn hơn các mẫu PP.04 và PP.06 tương tứng là 2,9% và 8,5%. Điều đó cho thấy, ở mức thấp, sợi PP được phân bố tương đối đồng đều trong nền hồ, giúp hạn chế vi nứt và co ngót khi đóng rắn. Khi tăng hàm lượng sợi, sự phân tán trở nên kém hiệu quả, sợi có xu hướng kết búi trong khối bê tông.

- Cường độ chịu kéo khi bửa của bê tông bọt là giá trị cường độ chịu nén trung bình cộng của 3 viên mẫu hình trụ có kích thước (150 x 300) mm, chiều cao 30 cm ở tuổi 7, 14 và 28 ngày. Kết quả thí nghiệm cường độ kéo khi bửa được biểu diễn dưới dạng đồ thị như ở hình 3.4. Kết quả cho thấy:

+ Đối với các mẫu dùng sợi PP cường độ chịu kéo khi bửa ở các thời điểm thí nghiệm đều lớn hơn mẫu không dùng sợi. Điều này có nghĩa là sợi PP với các tỷ lệ đã dùng trong nghiên cứu này góp phần cải thiện đáng kể cường độ chịu kéo khi bửa;

+ Cường độ chịu kéo khi bửa của các mẫu dùng sợi PP là sự kết hợp của vữa và sợi; ở thời điểm 7 ngày khi cường độ của bê tông chưa phát triển thì sợi PP góp phần đáng kể cải thiện cường độ chịu kéo, cường độ chịu kéo tăng tuyến tính khi tăng hàm lượng sợi PP; đến thời điểm 14 ngày và 28 ngày thì cường độ chịu kéo tiếp tục tăng so với thời điểm 7 ngày, tuy nhiên ở các thời điểm này việc tăng hàm lượng sợi sẽ không ảnh hưởng nhiều đến cường độ chịu kéo, điều này chứng tỏ theo thời gian sự phát triển cường độ của bê tông sẽ góp phần cải thiện cường độ chịu kéo.     

+ Khác với cường độ chịu nén khi tăng hàm lượng sợi thì cường độ chịu kéo khi bửa có khuynh hướng tăng. Cụ thể ở thời điểm 7 ngày cường độ chịu kéo của bê tông PP.02, PP.04 và PP.06 tăng tương ứng 21,7%, 30,3% và 35,4%.

-  Để tìm ra giá trị tối ưu của hàm lượng sợi PP, chúng tôi đã vẽ đồ thị cường độ chịu nén và chịu kéo khi bửa tại thời điểm 28 ngày trên cùng một mặt phẳng tạo độ như hình 3.5. Kết quả cho thấy hàm lượng sợi PP tối ưu khoảng 0,35%. Giá trị này là sự cân bằng hợp lý giữa khả năng kiểm soát vi nứt, gia cường cơ học và tính công tác của hỗn hợp.

Hình 3.5. Đồ thị biểu diễn cường độ chịu kéo và chịu nén theo hàm lường sợi PP tại thời điểm 28 ngày.

4. Kết luận

Bằng các thí nghiệm về xác định các tham số vật lý của cốt liệu, tính chất của hỗn hợp bê tông và các đặc trưng cơ lý của bê tông sau khi đóng rắn, bài báo rút ra các kết luận sau:

- Nguồn bột đá thu được từ làng mỹ nghệ Non Nước tại Đà Nẵng cho thấy độ mịn, độ sạch và thành phần khoáng ổn định, nhờ đó hoàn toàn phù hợp để sử dụng như một loại cốt liệu mịn thay thế trong sản xuất bê tông bọt mà vẫn đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật về độ đặc chắc và ổn định thể tích.

- Xỉ lò cao từ Nhà máy Thép Hòa Phát - Dung Quất đáp ứng tốt các tiêu chí về hoạt tính pozzolan và độ ổn định thể tích, qua đó có thể sử dụng như một loại chất kết dính khoáng bổ sung thay thế một phần xi măng Portland, góp phần cải thiện tính chất của bê tông bọt cả ở trạng thái tươi lẫn sau khi đóng rắn.

- Phối hợp sử dụng đồng thời bột đá và xỉ lò cao trong thành phần bê tông bọt không chỉ mang lại hiệu quả về mặt kỹ thuật, thông qua việc cải thiện cường độ và độ bền ổn định của vật liệu, mà còn có ý nghĩa lớn về mặt môi trường khi góp phần tái sử dụng phế thải công nghiệp, hướng tới phát triển các dòng vật liệu xây dựng xanh và bền vững.

- Việc bổ sung thành phần sợi polypropylene (PP) vào hỗn hợp bê tông bọt có ảnh hưởng rõ rệt đến tính công tác của bê tông tươi, thể hiện qua sự suy giảm đáng kể về độ chảy xoè; điều này cho thấy sự hiện diện của sợi đã làm cản trở chuyển động của hạt cốt liệu và bọt khí trong hỗn hợp.

- Khi sử dụng hàm lượng sợi PP ở mức 0,35% so với khối lượng xi măng, bê tông đạt được hiệu quả tăng cường cường độ cơ học rõ rệt, chứng tỏ rằng tỷ lệ này là ngưỡng tối ưu để phát huy khả năng phân tán và gia cường của sợi trong nền xi măng mà không gây ra hiệu ứng kết tụ hoặc làm suy giảm liên kết nội bộ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. A. Arrigoni et al., “Life cycle greenhouse gas emissions of concrete containing supplementary cementitious materials: Cut-off vs. substitution”, J. Clean. Prod., vol. 263, p. 121465, 2020.

[2]. C. Bing, W. Zhen, and L. Ning, “Experimental research on properties of high-strength foamed concrete”, J. Mater. Civ. Eng., vol. 24, no. 1, pp. 113 - 118, 2012.

[3]. E. P. Kearsley and P. J. Wainwright, “The effect of high fly ash content on the compressive strength of foamed concrete”, Cem. Concr. Res., vol. 31, no. 1, pp. 105 - 112, 2001.

[4]. F. Winnefeld, A. Leemann, A. German, and B. Lothenbach, “CO2 storage in cement and concrete by mineral carbonation”, Curr. Opin. Green Sustain. Chem., p. 100672, 2022.

[5]. Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam, TCVN 9030:2017: Bê tông nhẹ - phương pháp thử. Bộ Khoa học và Công nghệ, 2017.

[6]. J. Hulimka, A. Knoppik-Wróbel, R. Krzywoń, and R. Rudišin, “Possibilities of the structural use of foamed concrete on the example of slab foundation” in Proceedings of the 9th Central European Congress on Concrete Engineering, vol. 67, p. 74, 2013.

[7]. L. Fedorowicz, M. Kadela, and Ł. Bednarski, “Modeling of the foamed concrete behavior for the layered structures cooperating with subsoil” Tech. Notes Katowice Sch. Technol., vol. 6, pp. 73 - 81, 2014.

[8]. M. Decký, M. Drusa, K. Zgútová, M. Blaško, M. Hájek, and W. Scherfel, “Foam concrete as new material in road constructions,” Procedia Eng, vol. 161, pp. 428 - 433, 2016.

[9]. M. Drusa, L. Fedorowicz, M. Kadela, and W. Scherfel, “Application of geotechnical models in the description of composite foamed concrete used in contact layer with the subsoil” 2011.

[10]. M. Kadela and M. Kozłowski, “Foamed concrete layer as sub-structure of industrial concrete floor”, Procedia Eng., vol. 161, pp. 468 - 476, 2016.

[11]. M. U. Hossain, C. S. Poon, Y. H. Dong, and D. Xuan, “Evaluation of environmental impact distribution methods for supplementary cementitious materials”, Renew. Sustain. Energy Rev., vol. 82, pp. 5976 - 08, 2018.

[12]. Nguyễn Thị Mùi, Trịnh Thị Hà Phương, Nguyễn Thị Thanh, Lê Thị Thương, “Ảnh hưởng của hàm lượng sợi polypropylene lên các đặc tính kỹ thuật của bê tông bọt “Tạp chí khoa học kỹ thuật Thủy lợi và Môi trường 2022

[13]. N. Đ. Tuấn, H. P. Nam, N. V. Hướng, and N. M. Hải, “Nghiên cứu thành phần cấp phối bê tông cốt liệu mịn và thân thiện với môi trường ứng dụng trong chế tạo bê tông truyền sáng,” Tạp chí Khoa học và Công nghệ-Đại học Đà Nẵng, 2022.

[14]. R. A. Barnes, “Foamed concrete: Application and specification,” in Excellence in Concrete Construction through Innovation, CRC Press, 2008, pp. 19–26.

[15]. VABM, TCVN 9029:2017, Bê tông nhẹ - sản phẩm bê tông bọt và bê tông khí không chưng áp - yêu cầu kỹ thuật. Bộ Khoa học và Công nghệ, 2017.

[16].  V. M. Chi, N. M. Hai, N. Lan, and N. Van Huong, “Stress Self-sensitivity of Carbon Black-filled Mortar under Nondestructive Compression and the Effects of Electric Circuit and Specimen Dimensions” J. Adv. Concr. Technol., vol. 21, no. 9, 2023.

[17]. Viện Vật liệu xây dựng, TCVN 6017:2015 Xi măng - Phương pháp xác định thời gian đông kết và độ ổn định thể tích, Bộ Khoa học và Công nghệ, 2015.

[18]. Viện Vật liệu xây dựng, TCVN 10654:2015 Chất tạo bọt cho bê tông bọt - Phương pháp thử, Bộ Khoa học và Công nghệ, 2015.

[19]. Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng, TCVN 3118:2022: Bê tông - phương pháp xác định cường độ chịu nén, Bộ Khoa học và Công nghệ, 2022.

[20]. W. Tian, L. Li, X. Zhao, M. Zhou, and N. Wang, “Application of foamed concrete in road engineering”, in International Conference on Transportation Engineering, pp. 2114-2120, 2009.

[21]. Y. Fu, X. Wang, L. Wang, and Y. Li, “Foam concrete: A state-of-the-art and state-of-the-practice review”, Adv. Mater. Sci. Eng., vol. 2020, 2020.

Bình luận
 Công ty Cổ phần Xây dựng Giao thông Bắc Giang Ban Quản lý dự án các công trình giao thông Đồng Tháp Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông Quảng Trị Trung tâm Đào tạo và sát hạch lái xe Quảng Trị Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Tĩnh Công ty CP Sao Băng Việt Nam Công ty TNHH Đầu tư - Xây dựng Nguyên Cát Tổng công ty Xây dựng số 1 Công ty Xe đạp Thống Nhất