1. Giới thiệu
Mua sắm xanh (MSX) là công cụ phía cầu giúp đưa tiêu chí vòng đời vào lựa chọn vật liệu xanh (VLX), chuyển trọng tâm từ chi phí ban đầu sang giá trị vòng đời và dựa trên các công cụ như tuyên bố sản phẩm, đánh giá vòng đời và chi phí vòng đời (Sanchez & cộng sự, 2014; Ortega Carrasco & cộng sự, 2024).
Khi yêu cầu kỹ thuật theo hiệu năng được thiết kế nhất quán và gắn chặt với điều khoản hợp đồng, MSX có thể thúc đẩy đổi mới vật liệu - công nghệ trong chuỗi cung ứng, kể cả với các dòng vật liệu phát thải cao như xi măng gắn thu giữ - lưu giữ carbon (Sanchez & cộng sự, 2014; Stokke & cộng sự, 2022).
Tuy nhiên, triển khai MSX vẫn bị giới hạn bởi chi phí đầu tư, năng lực dữ liệu - kỹ thuật và thiếu chuẩn liên thông, khiến cơ chế xác minh nguồn gốc VLX và việc áp dụng chúng vào các dự án xây dựng trở nên hạn chế và không đồng đều (Sanchez & cộng sự, 2014; Vejaratnam & cộng sự, 2020; Ortega Carrasco & cộng sự, 2024).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy VLX được nhìn nhận là giải pháp quan trọng cho giảm phát thải và sức khỏe cộng đồng, nhưng mức độ áp dụng còn thấp do rào cản chi phí, nhận thức và thiếu hỗ trợ chính sách (Lê & cộng sự, 2025).
Trên nền đó, nghiên cứu này tập trung làm rõ chuỗi “yếu tố - cơ chế - kết quả” trong chấp nhận VLX, định lượng vai trò của đặc tả theo hiệu năng, dữ liệu vòng đời, trọng số môi trường trong chấm thầu và các cơ chế xác minh - đối thoại thị trường, đồng thời đề xuất bộ chỉ báo và quy trình kiểm định có thể tái lập cho đo lường - thẩm định (Sanchez & cộng sự, 2014; Stokke & cộng sự, 2022). Từ đó, thúc đẩy MSX và ứng dụng VLX trong các dự án xây dựng, đặc biệt là các dự án cao tầng, tại Việt Nam.
2. Các nghiên cứu liên quan
2.1. Định nghĩa VLX
Trong bối cảnh MSX, VLX được hiểu là phương án vật liệu có tác động vòng đời thấp và/hoặc dùng tài nguyên hiệu quả hơn so với lựa chọn thay thế. Để đánh giá công bằng, hồ sơ mời thầu cần yêu cầu tuyên bố sản phẩm môi trường (EPD) kèm đánh giá vòng đời (LCA) và chi phí vòng đời (LCC), ưu tiên thể hiện dưới dạng đặc tả theo hiệu năng (Sanchez & cộng sự, 2014; Shooshtarian & cộng sự, 2022; Stokke & cộng sự, 2022).
Cách tiếp cận này bao trùm các nhóm VLX chính như: vật liệu phát thải thấp (kể cả có thu giữ, lưu giữ carbon), vật liệu tái sử dụng tái chế từ chất thải xây dựng phá dỡ, vật liệu sinh học tái tạo và giải pháp nâng hiệu suất vận hành (Sanchez & cộng sự, 2014; Shooshtarian & cộng sự, 2022).
Trong điều kiện Việt Nam, bằng chứng thực nghiệm cho thấy chi phí đầu tư ban đầu vẫn là rào cản nổi bật khi áp dụng công trình xanh, làm tăng áp lực vốn và rủi ro tài chính cho chủ đầu tư (Trần & Phạm, 2024).
2.2. Cơ chế tác động theo 5 miền của quy trình mua sắm
Bằng chứng trong tài liệu cho thấy chuỗi cơ chế của MSX vận hành qua 5 miền liên kết. Trước hết, chính sách thể chế tạo sức cầu và chuẩn mực thị trường cho tiêu chí môi trường.
Kế đến, hồ sơ mời thầu chuyển từ chỉ định sang đặc tả theo hiệu năng, kèm yêu cầu EPD, LCA và LCC như căn cứ dữ liệu. Khâu đánh giá trao thầu áp dụng logic giá trị vòng đời, trong đó trọng số môi trường cần đủ lớn để phản ánh lợi ích phát thải thấp. Sau khi trao thầu, điều khoản hợp đồng và cơ chế xác minh duy trì tính ràng buộc thông qua chỉ số môi trường và kiểm chứng EPD.
Cuối cùng, tương tác thị trường dữ liệu (đối thoại sớm, phát triển nhà cung ứng, kết nối mô hình thông tin công trình (BIM) với LCA - EPD) gia tăng minh bạch và khả năng truy xuất (Ortega Carrasco & cộng sự., 2024; Sanchez & cộng sự, 2014; Shooshtarian & cộng sự., 2022; Radicic & Jackson, 2025; Stokke & cộng sự., 2022).
Điều này phù hợp với khuyến nghị từ các nghiên cứu trong nước về công trình xanh, khi kết quả phân tích chi phí - vốn đầu tư cho thấy cần đa dạng hóa các công cụ hỗ trợ tài chính nếu muốn mở rộng áp dụng tiêu chuẩn công trình xanh trong điều kiện thị trường Việt Nam (Trần & Phạm, 2024).
2.3. Các nghiên cứu liên quan
Tại châu Âu, ở cấp độ doanh nghiệp, khi tiêu chí môi trường được lồng ghép nhất quán vào chấm thầu và giám sát, MSX có thể thúc đẩy đổi mới xanh và nâng hiệu quả sử dụng tài nguyên (Radicic & Jackson, 2025).
Tổ hợp đặc tả theo hiệu năng, EPD, LCA/LCC và đánh giá theo giá trị vòng đời giúp chuyển trọng tâm từ chi phí ban đầu sang lợi ích vòng đời, đồng thời tăng minh bạch và khả năng truy xuất dữ liệu trong cả giai đoạn đấu thầu và thực thi hợp đồng (Sanchez & cộng sự, 2014; Ortega Carrasco & cộng sự, 2024).
Ở chiều chuỗi cung ứng, việc tham gia sớm của nhà cung ứng thượng nguồn là điều kiện để triển khai vật liệu phát thải thấp (như xi măng gắn thu giữ - lưu giữ carbon) và giảm rủi ro tích hợp, trong khi chính sách chất thải xây dựng, phá dỡ theo hướng tuần hoàn cho thấy tiềm năng nâng tỷ lệ tái sử dụng, tái chế ở quy mô dự án và địa phương (Stokke & cộng sự, 2022; Shooshtarian & cộng sự, 2022).
2.4. Khoảng trống nghiên cứu
Có 2 nhóm khoảng trống nổi bật là đo lường “liều lượng công cụ” và làm rõ cơ chế trung gian - điều tiết. Về đo lường, tài liệu hiện chưa thống nhất ngưỡng và trọng số môi trường tối ưu trong đánh giá theo giá trị vòng đời cho từng nhóm VLX, cũng như thiếu bằng chứng so sánh khi thay đổi mức yêu cầu EPD, độ sâu LCA/LCC hay mức chi tiết của đặc tả theo hiệu năng (Sanchez & cộng sự, 2014; Radicic & Jackson, 2025).
Về cơ chế, mối liên hệ giữa năng lực thượng nguồn (năng lực nhà cung ứng, độ tin cậy EPD, mức sẵn có LCA) với mức chấp nhận VLX ở cấp dự án và cơ quan mua sắm vẫn hiếm nghiên cứu kiểm định vai trò trung gian và điều tiết (Stokke & cộng sự, 2022; Ortega Carrasco & cộng sự, 2024).
Ngoài ra, cơ sở dữ liệu EPD - LCA bản địa và quy trình kết nối BIM - LCA - EPD xuyên suốt từ hồ sơ mời thầu đến hợp đồng vẫn là khoảng trống thực chứng quan trọng cho mục tiêu kiểm chứng và giám sát trong suốt vòng đời dự án (Shooshtarian & cộng sự, 2022).
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ hướng dẫn PRISMA 2020 cho giai đoạn 2009-2025 trong lĩnh vực xây dựng và hạ tầng, ưu tiên bài tiếng Anh và bổ sung bài tiếng Việt khi có toàn văn.
Tư liệu được lấy từ bộ bài báo do nhóm nghiên cứu tổng hợp, loại trùng lặp theo DOI, tiêu đề, tác giả và năm; các nhà xuất bản và cơ sở dữ liệu dùng để truy vấn được liệt kê ở Bảng 1 nhằm bảo đảm khả năng lặp lại tìm kiếm (Badi & Murtagh, 2019; Vejaratnam & cộng sự, 2020).
Bằng chứng được mã hóa theo 5 miền MSX gồm: quản trị - chính sách, yêu cầu kỹ thuật theo hiệu năng, đánh giá theo giá trị vòng đời dựa trên EPD/LCA/LCC, hợp đồng - xác minh và tương tác thị trường - dữ liệu (Sanchez & cộng sự, 2014; Vejaratnam & cộng sự, 2020; Shooshtarian & cộng sự, 2022).
Các câu hỏi nghiên cứu tập trung vào tác động của các miền này đối với mức chấp nhận VLX và các kết quả về đổi mới, tuần hoàn chất thải xây dựng - phá dỡ và phát thải hàm chứa.
Chỉ các bài báo bình duyệt được đưa vào phân tích; quá trình sàng lọc được thực hiện theo hình thức sàng lọc đôi, với lưu đồ PRISMA ghi rõ lý do loại trừ.
Dữ liệu được trích xuất theo biểu mẫu thí điểm, đánh giá chất lượng dựa trên mức độ minh bạch của thiết kế nghiên cứu, độ tin cậy của đo lường và kiểm soát thiên lệch.
Sau đó, bằng chứng được tổng hợp theo hình thức tường thuật (thematic synthesis) dựa trên 5 miền MSX, kèm theo các phân tích phân tầng theo công cụ, khu vực, dòng vật liệu và mức độ tham gia thượng nguồn, đồng thời ghi nhận các hạn chế liên quan đến dị biệt thước đo và sự thiếu hụt bằng chứng từ phía cung (Ma & cộng sự, 2021; Stokke & cộng sự, 2022; Radicic & Jackson, 2025).
Bảng 1. Các nhà xuất bản/ cơ sở dữ liệu tìm kiếm


4. Kết quả tổng quan tài liệu
4.1. Quy mô và phạm vi nghiên cứu
Bộ dữ liệu gồm 68 bài về VLX, tuyển chọn theo PRISMA 2020 và minh họa ở Hình 1, cùng với kiểm tra dữ liệu lớn để bảo đảm minh bạch và khả năng tái lập. Nội dung tổng hợp quy chiếu về 5 mắt xích của MSX gồm: (i) chính sách - thể chế, (ii) hồ sơ mời thầu với yêu cầu kỹ thuật theo hiệu năng, (iii) đánh giá - trao thầu theo giá trị vòng đời với trọng số môi trường đủ lớn, (iv) điều khoản hợp đồng - xác minh và (v) thị trường - dữ liệu (Sanchez & cộng sự, 2014; Vejaratnam & cộng sự, 2020; Shooshtarian & cộng sự, 2022; Ahmed & cộng sự, 2024).
Có 4 dòng VLX trọng yếu được theo dõi gồm: xi măng/bê tông carbon thấp, VLX từ chất thải xây dựng - phá dỡ, VLX hiệu suất cao và VLX sinh học - tái tạo (Sanchez & cộng sự, 2014; Shooshtarian & cộng sự, 2022; Stokke & cộng sự, 2022). Phân bố theo thời gian, địa lý, loại hình công bố và phương pháp thể hiện ở Bảng 2.
4.2. Xu hướng theo thời gian
Trước năm 2018, nghiên cứu chủ yếu nhận diện rào cản chi phí, năng lực dữ liệu kỹ thuật và thiếu chuẩn bảo đảm chất lượng; thực hành EPD, LCA, LCC và xác minh sau trúng thầu còn mờ nhạt (Sanchez & cộng sự, 2014; Chan & cộng sự, 2018).
Kể từ năm 2018, quỹ đạo nghiên cứu và thực hành chuyển sang giai đoạn thiết kế và triển khai, tập trung vào đặc tả theo hiệu năng; bắt buộc EPD, LCA và LCC; đánh giá theo giá trị vòng đời; và gắn kết dữ liệu vòng đời với quản lý hợp đồng, đồng thời khuyến khích sự tham gia sớm của nhà cung ứng đối với các vật liệu phát thải thấp, chẳng hạn như xi măng gắn công nghệ thu giữ và lưu giữ carbon (Shooshtarian & cộng sự, 2022; Stokke & cộng sự, 2022; Ahmed & cộng sự, 2024)
Bảng 2. Thống kê theo thời gian, địa lý, loại hình và phương pháp

4.3. Chủ đề, khoảng trống và hàm ý
Bằng chứng quy tụ quanh 6 cụm gồm: rào cản hoặc động lực VLX; phát triển nhà cung cấp và chuỗi cung ứng bền vững; tích hợp VLX hồ sơ mời thầu - hợp đồng; số hóa BIM - LCA - EPD; đổi mới xanh và hiệu suất môi trường; chính sách - thể chế - khuyến khích tài chính. Tổ hợp hiệu năng + LCA hoặc LCC + trọng số môi trường cho phép đo lường và xác minh ở cấp gói thầu, hiệu lực tăng khi có dữ liệu vòng đời tin cậy và tham gia sớm của nhà cung ứng (Sanchez & cộng sự, 2014; Shooshtarian & cộng sự, 2022; Stokke & cộng sự, 2022; Ahmed & cộng sự, 2024).
Ở châu Âu, MSX gắn với đổi mới sản phẩm hoặc quy trình và hiệu quả tài nguyên, có tác động trung gian bởi hỗ trợ quản trị (Ma & cộng sự, 2021; Radicic & Jackson, 2025).
5. Thảo luận
Trong khu vực công, lựa chọn VLX thường vận hành theo chuỗi: năng lực tổ chức (quản trị, nhân sự, quy trình, công nghệ) → dữ liệu vòng đời đáng tin cậy (tuyên bố sản phẩm môi trường, đánh giá vòng đời, chi phí vòng đời) → đặc tả theo hiệu năng, chào thầu hiệu quả kinh tế nhất với trọng số môi trường và các điều khoản xác minh → quyết định mua sắm vật liệu phát thải thấp và khuyến khích đổi mới (Sanchez & cộng sự, 2014; Stokke & cộng sự, 2022; Ahmed & cộng sự, 2024).
Rào cản phổ biến gồm: chi phí ban đầu cao, thiếu ưu đãi, hạn chế năng lực kỹ thuật - dữ liệu và thiếu chuẩn - liên thông phần mềm, khiến dòng thông tin vòng đời bị đứt đoạn, nhất là ở bối cảnh đang phát triển (Shooshtarian & cộng sự, 2022; Chan & cộng sự, 2018).
Hiệu lực thực thi tăng rõ khi yêu cầu theo hiệu năng, dữ liệu vòng đời và cơ chế xác minh được lồng ghép nhất quán từ hồ sơ mời thầu đến chấm thầu - hợp đồng, đồng thời có đối thoại thị trường sớm và chương trình phát triển nhà cung ứng (Sanchez & cộng sự, 2014; Stokke & cộng sự, 2022).
Dòng nghiên cứu về chuỗi cung ứng xanh và công nghệ số khẳng định hạ tầng dữ liệu là điều kiện cần cho truy xuất, minh bạch và kiểm chứng, từ đó tạo nền cho các đòn bẩy mua sắm công xanh vận hành (Badi & Murtagh, 2019; Do & cộng sự, 2025; Md Al Amin & cộng sự, 2025).
Từ đây, cơ quan mời thầu nên chuẩn hóa quy trình - dữ liệu, bắt buộc tuyên bố sản phẩm môi trường, đánh giá vòng đời, chi phí vòng đời, áp dụng chào thầu hiệu quả kinh tế nhất với trọng số môi trường minh bạch và thiết lập bộ chỉ số xác minh; doanh nghiệp và nhà cung ứng cần hoàn thiện minh chứng vòng đời và thí điểm truy xuất số; về học thuật, khung tích hợp giữa chuỗi cung ứng xanh, mua sắm công xanh, mô hình thông tin công trình và công nghệ số cho phép kiểm định vai trò trung gian của dữ liệu vòng đời và đo lường ngưỡng, trọng số môi trường theo nhóm vật liệu ở cấp dự án (Ma & cộng sự, 2021; Radicic & Jackson, 2025).
Bảng 3 dưới đây tóm lược các nguồn tiêu biểu và đối chiếu chúng với 4 miền năng lực tổ chức (quản trị, con người, quy trình, công nghệ) cùng đòn bẩy MSX (HSMT/đặc tả theo hiệu năng, MEAT/LCA/LCC, điều khoản hợp đồng - xác minh, thị trường - dữ liệu), qua đó minh họa cách bằng chứng thực nghiệm liên kết thiết kế công cụ với kết quả chấp nhận VLX.
Nhìn chung, không có một đòn bẩy MSX đơn lẻ nào đủ để thúc đẩy chấp nhận VLX nếu các miền năng lực tổ chức chưa được củng cố đồng thời, đặc biệt là năng lực dữ liệu - quy trình và quản trị đổi mới.
Sự giao thoa giữa các nghiên cứu về chuỗi cung ứng xanh, BIM và chuỗi khối gợi ý rằng hạ tầng dữ liệu và cơ chế minh bạch hóa thông tin có thể đóng vai trò “nền tảng chung” cho việc thiết kế và vận hành các công cụ MSX (Badi & Murtagh, 2019; Do & cộng sự, 2025; Md Al Amin & cộng sự, 2025).
Bảng 3. Kết quả đối chiếu với miền năng lực chủ đạo và đòn bẩy MSX liên quan

Đặc biệt, ở những bối cảnh đang phát triển như Việt Nam, cách tiếp cận hợp lý hơn là triển khai lộ trình từng bước: chuẩn hóa dữ liệu và quy trình nội bộ, sau đó mới mở rộng sang yêu cầu đặc tả theo hiệu năng, MEAT dựa trên LCA/LCC và các cơ chế truy xuất số ở cấp chuỗi cung ứng.
Đồng thời, khung đối chiếu trong Bảng 3 cũng cung cấp một cơ sở tham chiếu hữu ích để xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ sẵn sàng tổ chức đối với MSX và ưu tiên các nhóm can thiệp chính sách - năng lực phù hợp với từng giai đoạn phát triển thị trường VLX.
6. Kết luận
Trong khu vực công, chấp nhận MSX thường vận hành theo chuỗi liên kết gồm: năng lực tổ chức (quản trị, nhân sự, quy trình, công nghệ) tạo nền cho dữ liệu vòng đời tin cậy (tuyên bố sản phẩm môi trường, đánh giá vòng đời, chi phí vòng đời).
Từ dòng dữ liệu này, các công cụ MSX (yêu cầu kỹ thuật theo hiệu năng, chào thầu hiệu quả kinh tế nhất với trọng số môi trường, điều khoản xác minh) được thiết kế nhất quán, qua đó nâng xác suất lựa chọn và thúc đẩy đổi mới.
Rào cản chính vẫn là chi phí ban đầu cao và thiếu ưu đãi, hạn chế năng lực dữ liệu - kỹ thuật, cùng thiếu chuẩn và liên thông phần mềm làm đứt mạch dữ liệu.
Hiệu lực tăng rõ khi yêu cầu theo hiệu năng, EPD/LCA/LCC và cơ chế xác minh được “cài sâu” xuyên suốt hồ sơ mời thầu, chấm thầu và hợp đồng, đồng thời đi kèm đối thoại thị trường sớm và chương trình phát triển nhà cung cấp.
Nỗ lực số hóa (mô hình thông tin công trình, phân tích dữ liệu, chuỗi khối) chỉ bền vững khi tuân theo lộ trình “chuẩn hóa trước, số hóa sau, xác minh đồng hành”.
Trong bước tiếp theo, nghiên cứu cần lượng hóa trọng số môi trường tối ưu cho từng nhóm mua sắm, kiểm định quan hệ nhân - quả giữa các cấu phần MSX, mức sẵn sàng dữ liệu/ công nghệ và kết quả môi trường ở cấp dự án, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu EPD/LCA bản địa tích hợp với mô hình thông tin công trình để thí điểm trọn vẹn lộ trình “chuẩn hóa - số hóa - xác minh” trong các gói thầu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Ahmed, M.Z., O’Donoghue, C., & McGetrick, P.J. (2024). Green public procurement in construction: A systematic review. Cleaner and Responsible Consumption, 15, 100234. https://doi.org/10.1016/j.clrc.2024.100234.
[2]. Al Amin, M., Baldacci, R., & Kerbache, L. (2025). Blockchain-based green supply chain management framework for sustainable practices in Bangladeshi RMG industries. Discover Sustainability, 6, 508. https://doi.org/10.1007/s43621-025-01196-8.
[3]. Badi, S. & Murtagh, N. (2019). Green supply chain management in construction: A systematic literature review and future research agenda. Journal of Cleaner Production, 223, 312–322. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2019.03.132 agris.fao.org
[4]. Chan, A.P.C., Darko, A., Olanipekun, A.O., & Ameyaw, E.E. (2018). Critical barriers to green building technologies adoption in developing countries: The case of Ghana. Journal of Cleaner Production, 172, 1067-1079. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2017.10.235.
[5]. Do, M.H., Huang, Y.F., & Hoang, T.T. (2025). Blockchain adoption in green supply chains: Analyzing key drivers, green innovation, and expected benefits. Journal of Theoretical and Applied Electronic Commerce Research, 20(1), 39. https://doi.org/10.3390/jtaer20010039 DOAJ.
[6]. Kiet, T.T. (2024). Problematic issues emerging during BIM implementation process in construction organizations. Built Environment Project and Asset Management, 14(6), 892-913. https://doi.org/10.1108/BEPAM-06-2023-0097.
[7]. Trần, Q.B. & Phạm, Đ.T. (2024). Nghiên cứu về tác động của chi phí lên vốn đầu tư trong xây dựng công trình theo tiêu chuẩn công trình xanh. Tạp chí Vật liệu và Xây dựng - Bộ Xây dựng, 14(4), 130-136. https://doi.org/10.54772/jomc.04.2024.771.
[8]. Ma, Y., Liu, Y., Appolloni, A., & Liu, J. (2021). Does green public procurement encourage firm’s environmental certification practice? The mediation role of top management support. Corporate Social Responsibility and Environmental Management, 28(5), 1002-1015. https://doi.org/10.1002/csr.2101.
[9]. Ortega Carrasco, P., Paz, E., & Torrecillas, C. (2025). Green public procurement as an effective way for sustainable development. Sustainable Development, 33(2), 2364-2391. https://doi.org/10.1002/sd.3234.
[10]. Page, M.J., McKenzie, J.E., Bossuyt, P.M., Boutron, I., Hoffmann, T.C., Mulrow, C.D., Shamseer, L., Tetzlaff, J.M., Akl, E.A., Brennan, S.E., Chou, R., Glanville, J., Grimshaw, J.M., Hróbjartsson, A., Lalu, M.M., Li, T., Loder, E.W., Mayo-Wilson, E., McDonald, S., … Moher, D. (2021). The PRISMA 2020 statement: An updated guideline for reporting systematic reviews. BMJ, 372, n71. https://doi.org/10.1136/bmj.n71.
[11]. Radicic, D. & Jackson, I. (2025). Effectiveness of green public procurement in stimulating green products and resource efficiency in SMEs. Business Strategy and the Environment. Advance online publication. https://doi.org/10.1002/bse.70102
[12]. Sanchez, A.X., Lehtiranta, L., Hampson, K.D., & Kenley, R. (2014). Evaluation framework for green procurement in road construction. Smart and Sustainable Built Environment, 3(2), 153-169. https://doi.org/10.1108/SASBE-05-2013-0028.
[13]. Shooshtarian, S., Maqsood, T., Wong, P.S.P., & Bettini, L. (2022). Application of sustainable procurement policy to improve the circularity of construction and demolition waste resources in Australia. Circular Economy and Sustainability. Advance online publication. https://doi.org/10.1007/s42824-022-00069-z.
[14]. Stokke, R.A., Kristoffersen, F.S., Stamland, M., Holmen, E., Hamdan, H., & De Boer, L. (2022). The role of green public procurement in enabling low-carbon cement with CCS: An innovation ecosystem perspective. Journal of Cleaner Production, 363, 132451. https://doi.org/10.1016/j.jclepro.2022.132451.
[15]. Lê, N.L., Đinh, M.T., & Trần, T.M.H. (2025). Vai trò của vật liệu xanh trong bảo vệ môi trường và sức khỏe con người tại Việt Nam. Tạp chí Xây dựng và Đô thị - Học viện Chiến lược, Bồi dưỡng cán bộ Xây dựng và Đô thị.
[16]. Vejaratnam, N., Mohamad, Z.F., & Chenayah, S. (2020). A systematic review of barriers impeding the implementation of government green procurement. Journal of Public Procurement, 20(4), 451-471. https://doi.org/10.1108/JOPP-02-2020-0013.

Nghiên cứu đề xuất một cơ chế liên kết các đòn bẩy của mua xắm xanh với chuỗi tác động dẫn đến việc chấp nhận vật liệu xanh. Cơ chế này làm rõ vai trò trung gian của dữ liệu vòng đời sản phẩm và mức độ các tiêu chí môi trường trong quá trình ra quyết định. 

