Những điểm mới trong quản lý hoạt động xây dựng:

Bài 1: Chuyển từ tiền kiểm rộng sang tiền kiểm có trọng tâm

06:00 08/09/2026
Ông Bùi Văn Dưỡng - Phó Cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng trao đổi với Tạp chí Xây dựng về những thay đổi trong các nghị định hướng dẫn Luật Xây dựng năm 2025, trọng tâm là phân cấp, giảm thủ tục, tăng trách nhiệm của chủ đầu tư và chuyển từ quản lý bằng hồ sơ sang quản lý bằng dữ liệu.

Lời Tòa soạn:

Luật Xây dựng năm 2025 và các nghị định hướng dẫn có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, với nhiều thay đổi về quản lý hoạt động xây dựng, chi phí, hợp đồng, năng lực và dữ liệu. Tạp chí điện tử Xây dựng đăng tải loạt bài làm rõ những nội dung mới, yêu cầu thực hiện và các vấn đề cần lưu ý khi áp dụng.

♦ Đâu là thay đổi có tính xuyên suốt và quan trọng nhất trong hệ thống nghị định hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng năm 2025? Các nghị định được thiết kế như thế nào để hình thành chuỗi quản lý thống nhất từ chuẩn bị dự án, quản lý chi phí, thực hiện hợp đồng đến quản lý năng lực và dữ liệu?

- Thực hiện Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 (sau đây viết là Luật Xây dựng năm 2025), Chính phủ và Bộ Xây dựng đã ban hành đồng bộ các nghị định, thông tư quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Các VBQPPL này đều có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và tạo thành khung pháp lý đầy đủ, chặt chẽ để tổ chức quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng, hướng đến việc quản lý xây dựng hiệu quả, đồng độ với các pháp luật liên quan.

Ông Bùi Văn Dưỡng - Phó Cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng phát biểu tại Hội nghị tập huấn Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, ngày 21/8/2026, tại tỉnh Khánh Hòa.

Trong đó, sự thay đổi mang tính xuyên suốt và quan trọng nhất của Luật Xây dựng năm 2025 và hệ thống các VBQPPL quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành là việc đổi mới phương thức quản lý nhà nước về xây dựng theo hướng phân cấp, phân quyền mạnh, triệt để, giảm sự can thiệp hành chính, tăng quyền chủ động và trách nhiệm của chủ đầu tư và các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng, đồng thời chuyển trọng tâm quản lý nhà nước sang hoàn thiện thể chế, xây dựng công cụ quản lý, tiêu chuẩn, quy chuẩn và cơ sở dữ liệu, tăng cường kiểm tra, giám sát, cụ thể:  

Một là, từ tiền kiểm rộng sang tiền kiểm có trọng tâm (cơ quan chuyên môn về xây dựng chỉ thực hiện một thủ tục hành chính kể từ khi chuẩn bị đầu tư đến khởi công xây dựng công trình; cắt giảm nội dung thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng);  

Hai là, phân cấp, phân quyền triệt để các thủ tục hành chính cho chính quyền địa phương, chỉ giữ lại trung ương đối với các vấn đề mang tính liên tỉnh, liên vùng và liên quốc gia; liên quan đến quốc phòng, an ninh quốc gia, chủ quyền quốc gia; có kỹ thuật chuyên môn sâu hoặc liên quan đến những dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm công nghệ;  

Ba là, phân cấp, phân quyền, tăng quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm của chủ đầu tư và các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng tự quyết định, tự chịu trách nhiệm. 

Đây cũng là điểm khác biệt quan trọng của hệ thống pháp luật mới. Mục tiêu của việc sửa đổi, bổ sung pháp luật xây dựng không chỉ là rút ngắn một số thủ tục hành chính hoặc phân định lại thẩm quyền giữa các cơ quan, mà hướng tới hình thành một phương thức quản lý hiệu lực, hiệu quả, trong đó Nhà nước tập trung vào những vấn đề cần phải quản lý, còn những vấn đề thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư, tư vấn, nhà thầu và các chủ thể thì được trao quyền chủ động và gắn với trách nhiệm pháp lý tương ứng.  

Hệ thống các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng năm 2025 được thiết kế theo hướng không tách rời các lĩnh vực quản lý mà hình thành chuỗi quản lý thống nhất theo vòng đời dự án. Nghị định về quản lý hoạt động xây dựng xác lập trình tự và khung quản lý chung; nghị định về quản lý chi phí kiểm soát quản lý chi phí đầu tư xây dựng; nghị định về điều kiện năng lực và cơ sở dữ liệu xác định năng lực của các chủ thể tham gia, đồng thời hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng tạo lớp dữ liệu kết nối các khâu của quá trình đầu tư xây dựng phục vụ quản lý; nghị định về hợp đồng xây dựng quản lý về hợp đồng, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện của các bên tham gia hợp đồng xây dựng; nghị định về quản lý chất lượng và vật liệu xây dựng kiểm soát chất lượng đầu vào và kết quả hoàn thành công trình.  

Qua đó, hình thành phương thức quản lý mới theo hướng quản lý xuyên suốt từ đầu vào đến đầu ra, từ dự án đến chủ thể, từ nguồn lực đến kết quả; từ quản lý chủ yếu bằng hồ sơ, thủ tục sang quản lý dựa trên trách nhiệm, công cụ và dữ liệu. 

Các nghị định hướng dẫn Luật Xây dựng năm 2025 điều chỉnh nhiều nội dung từ chuẩn bị dự án, quản lý chi phí, hợp đồng đến dữ liệu hoạt động xây dựng và áp dụng BIM. Ảnh minh hoạ.

♦Nghị định về quản lý hoạt động xây dựng tiếp tục giảm đối tượng thẩm định, rút ngắn một số thủ tục và tăng quyền chủ động cho chủ đầu tư. Việc phân cấp này làm thay đổi trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và chủ đầu tư như thế nào?

- Việc Nghị định số 217/2026/NĐ-CP ngày 19/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng tiếp tục giảm đối tượng thẩm định, đơn giản hóa một số trình tự và tăng quyền chủ động cho chủ đầu tư thể hiện bước chuyển quan trọng trong phương thức quản lý nhà nước về xây dựng. Theo đó, Nhà nước không thực hiện tiền kiểm đối với mọi dự án và mọi nội dung mà tập trung kiểm soát những vấn đề có ảnh hưởng lớn đến an toàn công trình, an toàn cộng đồng, lợi ích công cộng và việc tuân thủ pháp luật; đồng thời chuyển mạnh sang quản lý bằng thể chế, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, điều kiện năng lực, công cụ quản lý, kiểm tra, giám sát. Cùng với đó, trách nhiệm của chủ đầu tư được nâng lên tương ứng với phạm vi quyền chủ động được giao. Chủ đầu tư không chỉ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện dự án mà còn phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, hợp pháp, chất lượng, chi phí, tiến độ và an toàn của các quyết định thuộc phạm vi được pháp luật giao quyền.  

Do đó, việc giảm đối tượng thẩm định không làm giảm trách nhiệm quản lý nhà nước mà là thay đổi phương thức thực hiện trách nhiệm đó; đồng thời việc tăng quyền chủ động cho chủ đầu tư không làm giảm yêu cầu quản lý mà là chuyển từ cơ chế Nhà nước kiểm soát sang cơ chế chủ đầu tư tự quyết định, tự kiểm soát và tự chịu trách nhiệm, kết hợp với cơ chế kiểm tra, giám sát của Nhà nước. Đây là cơ sở quan trọng để hình thành phương thức quản lý xây dựng theo hướng phân cấp, phân quyền thực chất, giảm chi phí tuân thủ nhưng vẫn bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng. 

♦ Đối với các quy định về thẩm định dự án, quản lý thiết kế, tổ chức Ban quản lý dự án và cấp giấy phép xây dựng, những điểm nào địa phương và chủ đầu tư cần đặc biệt lưu ý để tránh cách hiểu hoặc áp dụng không thống nhất?

- Thứ nhất, đối với quy định về thẩm định dự án, địa phương và chủ đầu tư cần lưu ý một số nội dung chính sau:  

Một là, xác định rõ về thẩm quyền thẩm định, dự án đầu tư xây dựng thuộc trường hợp phải thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng tại cơ quan chuyên môn về xây dựng hay chủ đầu tư tổ chức thẩm định;  

Hai là, xác định, phân biệt nội dung, phạm vi thẩm định của cơ quan chuyên môn về xây dựng với nội dung, phạm vi thẩm định của chủ đầu tư hoặc cơ quan chủ trì thẩm định;  

Ba là, đối với các dự án thuộc đối tượng thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng thì phải xác định đúng về thẩm quyền thẩm định đối với từng trường hợp theo quy định tại Điều 32, Điều 33 Nghị định số 217/2026/NĐ-CP;  

Bốn là, đối với các dự án đã, đang thực hiện thì cần xác định rõ về các trường hợp thuộc đối tượng chuyển tiếp theo quy định tại Điều 76 Nghị định số 217/2026/NĐ-CP. 

Đối với công tác thẩm định dự án theo Luật Xây dựng năm 2025 và Nghị định số 217/2026/NĐ-CP, ngoài các nội dụng trên, vấn đề cần đặc biệt lưu ý trong tổ chức thực hiện là phải thống nhất cách hiểu về phạm vi, đối tượng, thẩm quyền và nội dung thẩm định; đồng thời phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan chuyên môn về xây dựng, người quyết định đầu tư và chủ đầu tư. Việc giảm đối tượng và nội dung thẩm định không có nghĩa là giảm yêu cầu bảo đảm an toàn, chất lượng và hiệu quả đầu tư, mà là chuyển sang cơ chế Nhà nước kiểm soát có trọng tâm, đúng chức năng, đúng thẩm quyền; những nội dung không thuộc phạm vi thẩm định của cơ quan chuyên môn về xây dựng phải được chuyển giao rõ trách nhiệm cho người quyết định đầu tư, chủ đầu tư và các chủ thể chuyên môn có liên quan. Trong quá trình thực hiện, địa phương cần đặc biệt tránh việc mở rộng phạm vi thẩm định, yêu cầu thêm thành phần hồ sơ hoặc thực hiện lại các nội dung đã được pháp luật phân định cho chủ đầu tư và các chủ thể khác, qua đó bảo đảm thống nhất trong áp dụng pháp luật, giảm chi phí tuân thủ và thực hiện đúng tinh thần cải cách của Luật Xây dựng năm 2025. 

Thứ hai, đối với quy định về quản lý thiết kế, Luật Xây dựng năm 2025 quy định về các loại thiết kế xây dựng thay thế cho quy định về bước thiết kế xây dựng nhằm tránh có cách hiểu khác nhau trong công tác triển khai các bước thiết kế (quy định trước đây có cách hiểu là các bước thiết kế phải thực hiện theo trình tự); đồng thời tại Nghị định số 217/2026/NĐ-CP đã quy định cụ thể về nội dung các loại thiết kế xây dựng để bảo đảm tính thống nhất trong quá trình thực hiện, tránh tình trạng các đơn vị tư vấn thiết kế tùy tiện trong công tác thiết kế. 

Trong quá trình thực hiện đối với một số loại dự án, việc điều chỉnh thiết kế có thể dẫn đến việc đánh giá sự phù hợp giữa các bước thiết kế trở lên khó khăn, do đó tại Nghị định số 217/2026/NĐ-CP đã quy định cụ thể về việc điều chỉnh thiết kế được đánh giá là phù hợp với các bước thiết kế; đồng thời quy định rõ việc điều chỉnh thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt do chủ đầu tư tự thực hiện và báo cáo người quyết định đầu tư khi không dẫn đến trường hợp phải điều chỉnh dự án để giảm thiểu thủ tục về điều chỉnh thiết kế, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án. 

Thứ ba, đối với quy định về tổ chức quản lý dự án, thay cho việc người quyết định đầu tư phải quyết định 01 trong 04 hình thức quản lý dự án theo các quy định trước đây, Luật Xây dựng năm 2025 quy định người quyết định đầu tư chọn 01 trong 02 hình thức quản lý dự án và đồng thời tại Nghị định số 217/2026/NĐ-CP quy định cụ thể loại dự án cần áp dụng hình thức quản lý dự án quy định tại Luật nhằm tạo thuận lợi cho người quyết định đầu tư quyết định khi lựa chọn hình thức quản lý dự án. Nghị định số 217/2026/NĐ-CP cũng đã giao cho chủ đầu tư quyết định hình thức quản lý dự án (thuê tư vấn quản lý dự án, thành lập ban quản lý dự án trực thuộc hoặc tự thực hiện quản lý dự án) khi được người quyết định đầu tư quyết định hình thức chủ đầu tư quản lý dự án nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực hiện trong công tác quản lý dự án của chủ đầu tư. 

Luật Xây dựng năm 2025 và Nghị định số 217/2026/NĐ-CP không yêu cầu tổ chức, cá nhân tham gia quản lý dự án phải có chứng chỉ hành nghề mà chỉ yêu cầu cá nhân khi tham gia quản lý dự án phải có kinh nghiệm chuyên môn đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý dự án (quy định trước đây yêu cầu tổ chức, cá nhân tham gia quản lý dự án phải có chứng chỉ năng lực và chứng chỉ hành nghề). 

Thứ tư, đối với cấp giấy phép xây dựng, nội dung về cấp giấy phép xây dựng được quy định từ Điều 49 đến Điều 66 Nghị định số 217/2026/NĐ-CP. Trong đó, các quy định về điều kiện, thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng hay trình tự, nội dung xem xét, cấp, điều chỉnh, cấp lại, gia hạn giấy phép xây dựng đã được quy định rõ ràng, cụ thể đối với từng chủ thể. Đồng thời, thủ tục cấp giấy phép xây dựng cũng được quy định thực hiện theo quy trình cấp giấy phép trực tuyến toàn trình tại Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đối với các hồ sơ đã có trên cơ sở dữ liệu quốc gia thì không yêu cầu phải nộp tại hồ sơ đề nghị cấp phép.  

Trong thời gian qua, một số địa phương hoặc người dân có cách hiểu chưa đúng về công trình được miễn giấy phép xây dựng quy định tại điểm g khoản 2 Điều 43 Luật Xây dựng năm 2025. Theo đó, không phải toàn bộ công trình xây dựng cấp IV hoặc công trình nhà ở riêng lẻ có quy mô dưới 07 tầng có tổng diện tích sàn xây dựng dưới 500 m2 là được miễn phép xây dựng; các đối tượng này chỉ được miễn giấy phép xây dựng khi “không thuộc một trong các khu vực: khu chức năng, khu vực phát triển đô thị được xác định trong quy hoạch chung thành phố; khu chức năng, khu dân cư nông thôn, khu vực phát triển đô thị được xác định trong quy hoạch chung đô thị thuộc tỉnh, thuộc thành phố, quy hoạch chung khu kinh tế, khu du lịch quốc gia; khu vực xây dựng được xác định trong quy hoạch chung xã; khu vực đã có quy chế quản lý kiến trúc”. Do đó, địa phương và chủ đầu tư cần đặc biệt lưu ý nội dung này để tránh cách hiểu hoặc áp dụng không đúng quy định pháp luật. 

♦ Trong quản lý chi phí và hợp đồng xây dựng, các quy định mới xử lý mối quan hệ giữa biến động giá thị trường, loại giá hợp đồng và phân chia rủi ro giữa các bên như thế nào? Trường hợp giá vật liệu tăng cao cần đáp ứng những điều kiện gì để được xem xét điều chỉnh hợp đồng?

- Về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, tại Nghị định số 206/2026/NĐ-CP và Thông tư số 36/2026/TT-BXD đã quy định rõ việc tham khảo, sử dụng từ nhiều nguồn thông tin về giá xây dựng, dữ liệu chi phí công trình tương tự để xác định tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng bảo đảm phù hợp với tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật, xuất xứ, yêu cầu chất lượng của công trình và giá thị trường; quy định, hướng dẫn rõ việc xác định chi phí dự phòng bảo đảm phù hợp với độ dài thời gian thực hiện, tiến độ dự kiến và khả năng biến động giá cả trong nước và quốc tế (nếu có).

Đồng thời, quy định, hướng dẫn cụ thể việc điều chỉnh tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng, bao gồm cả trường hợp công trình, gói thầu đã ký hợp đồng; quy định rõ thẩm quyền của chủ đầu tư được điều chỉnh cơ cấu các khoản mục chi phí để bảo đảm tiến độ, mục tiêu của dự án nhưng không làm thay đổi mục tiêu, quy mô và không vượt tổng mức đầu tư xây dựng, không làm thay đổi cơ cấu nguồn vốn của dự án; trách nhiệm của chủ đầu tư, đơn vị tư vấn trong việc bảo đảm đầy đủ các căn cứ, cơ sở tính toán, xác định chi phí đầu tư xây dựng.

Ngoài ra, về trách nhiệm quản lý nhà nước trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng, tại Nghị định và Thông tư đã quy định và hướng dẫn rõ về thẩm quyền, trách nhiệm và phương pháp để Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương  tổ chức khảo sát, thu thập thông tin, xác định và công bố giá vật liệu xây dựng, giá nhân công, giá ca máy thi công, chỉ số giá xây dựng, bảo đảm phản ánh kịp thời diễn biến giá thị trường, phục vụ việc xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng. 

Đối với quản lý hợp đồng xây dựng, Luật Xây dựng năm 2025 và Nghị định số 210/2026/NĐ-CP đã tạo lập nguyên tắc phân chia rủi ro minh bạch, hài hòa lợi ích và phù hợp với tính chất của từng loại hợp đồng; được thể hiện tại các nội dung sửa đổi, bổ sung liên quan đến quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên, về sửa đổi hợp đồng xây dựng. Đặc biệt, đã quy định việc sửa đổi hợp đồng đối với trường hợp bất khả kháng/hoàn cảnh thay đổi cơ bản nếu sự kiện biến động giá đáp ứng được các điều kiện theo quy định quy đinh của pháp luật: cho phép chủ đầu tư được quyết định sửa đổi hợp đồng (gồm cả loại hợp đồng, hình thức giá, phương pháp điều chỉnh...). Ngoài ra, các nội dung cụ thể về điều chỉnh giá/đơn giá hợp đồng được quy định tại Nghị định số 210/2026/NĐ-CP để nâng cao tính pháp lý, đảm bảo phù hợp với thực tiễn triển khai. 

Đối với trường hợp giá vật liệu tăng cao, điều kiện chung để xem xét điều chỉnh hợp đồng là hợp đồng phải thuộc loại được điều chỉnh giá, được các bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng (về trường hợp, công thức, nguồn dữ liệu giá áp dụng,…). 

♦ Việc bổ sung hợp đồng theo kết quả đầu ra, đồng thời hoàn thiện quy định về sửa đổi, điều chỉnh giá, tạm dừng, chấm dứt và thanh lý hợp đồng được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những vướng mắc nào trong thực tiễn?

- Việc bổ sung quy định về hợp đồng theo kết quả đầu ra sẽ tạo thuận lợi cho các chủ thể lựa chọn loại hợp đồng này phù hợp với yêu cầu, tính chất của các công việc cần thực hiện; thuận lợi cho việc thanh toán, quyết toán hợp đồng theo kết quả đầu ra của các công việc đó. Cụ thể, đối với hợp đồng theo kết quả đầu ra sẽ chuyển từ kiểm soát chi tiết sang quản lý chất lượng sản phẩm cuối cùng; trên cơ sở đó, khuyến khích bên nhận thầu đổi mới công nghệ để tối ưu chi phí, tiến độ, ...  

Việc hoàn thiện các quy định về sửa đổi, điều chỉnh giá, tạm dừng, chấm dứt và thanh lý hợp đồng tại Luật Xây dựng năm 2025 và Nghị định số 210/2026/NĐCP sẽ góp phần minh bạch quá trình quản lý thực hiện hợp đồng; đồng thời, tháo gỡ những vướng mắc kéo dài trong thực tiễn thời gian qua, như: (i) Cụ thể hóa thủ tục sửa đổi hợp đồng, các trường hợp, công thức điều giá/đơn giá giúp bỏ cơ chế "xin - cho", rút ngắn thời gian xử lý và kịp thời hỗ trợ dòng tiền cho bên nhận thầu; (ii) Làm rõ căn cứ, trình tự tạm dừng/chấm dứt hợp đồng khi có vi phạm hoặc hoàn cảnh thay đổi, tránh tình trạng các bên chây ỳ, cố tình kéo dài không quyết toán; (iii) Chuẩn hóa quy trình, thời hạn thanh lý hợp đồng giúp giải tỏa tiền bảo lãnh và giảm thiểu tối đa tranh chấp phát sinh. Bên cạnh đó, các quy định này đã cho phép một bên có quyền đơn phương thanh lý hợp đồng trong trường hợp bên còn lại chây ì không thực hiện thanh lý hợp đồng theo thỏa thuận hợp đồng. Đồng thời, Luật Xây dựng năm 2025 còn quy định hợp đồng có thể tự thanh lý mà không cần Biên bản thanh lý hợp đồng nếu các bên có thỏa thuận. 

♦ Khi chuyển mạnh sang quản lý bằng dữ liệu, mã định danh và công khai thông tin năng lực, trách nhiệm cập nhật, kiểm tra và bảo đảm tính chính xác của dữ liệu được xác định như thế nào? Cơ chế này sẽ giúp đơn giản hóa hồ sơ, thủ tục cho người dân và doanh nghiệp ra sao?

- Khi chuyển sang quản lý bằng dữ liệu, mã định danh và công khai thông tin năng lực, Nghị định số 212/2026/NĐ-CP và Thông tư số 39/2026/TT-BXD đã phân định rõ trách nhiệm theo nguồn hình thành dữ liệu. Đối với dữ liệu được hình thành từ kết quả giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan chuyên môn về xây dựng, cơ quan thực hiện thủ tục có trách nhiệm thu thập, kiểm tra, chuẩn hóa, xác thực và cập nhật dữ liệu vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng. Đối với dữ liệu do chủ đầu tư, tổ chức, cá nhân tự kê khai, cập nhật trên Hệ thống, chủ thể cung cấp dữ liệu chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác và kịp thời của thông tin theo quy định.  

Trên cơ sở dữ liệu được thu thập từ các thủ tục hành chính và dữ liệu được cập nhật trên Hệ thống, thông tin về tổ chức, cá nhân, dự án đầu tư xây dựng, công trình xây dựng và các thông tin liên quan được tổng hợp, chuẩn hóa, liên kết bằng mã định danh và khai thác, công khai theo quy định, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”. Khi thông tin đã được xác lập và cập nhật trên Hệ thống, người dân, doanh nghiệp không phải kê khai, nộp lại hoặc chứng minh lại những thông tin đã có trong các thủ tục tiếp theo. Qua đó, mã định danh trở thành khóa liên kết để kế thừa và sử dụng lại dữ liệu, chuyển từ phương thức “quản lý bằng hồ sơ” sang “quản lý bằng dữ liệu”, giảm thành phần hồ sơ, thời gian, chi phí và tăng tính minh bạch, hiệu quả trong quản lý hoạt động xây dựng, dự án đầu tư xây dựng, công trình xây dựng và năng lực hoạt động xây dựng.  

♦ Đối với dự án, thiết kế, dự toán, hợp đồng, chứng chỉ và hồ sơ thủ tục đã được phê duyệt hoặc đang thực hiện trước ngày các nghị định có hiệu lực, nguyên tắc xử lý chuyển tiếp là gì? Bộ Xây dựng có những giải pháp nào để hỗ trợ địa phương và doanh nghiệp trong giai đoạn đầu triển khai?

- Việc xử lý chuyển tiếp tại Luật Xây dựng năm 2025 và các Nghị định hướng dẫn được thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng năm 2025 trên nguyên tắc bảo đảm tính liên tục, ổn định và không làm phát sinh yêu cầu thực hiện lại các thủ tục, công việc đã được hoàn thành hợp pháp trước thời điểm pháp luật mới có hiệu lực; đồng thời xác định rõ điểm chuyển giao để các công việc chưa thực hiện được chuyển sang áp dụng quy định mới.  

Việc xử lý chuyển tiếp được thiết kế theo từng lĩnh vực và theo trạng thái thực tế của dự án, hồ sơ, thủ tục, hợp đồng hoặc chứng chỉ, qua đó hạn chế tối đa khoảng trống pháp lý và chi phí tuân thủ phát sinh trong quá trình chuyển đổi. 

Trong giai đoạn đầu triển khai, Bộ Xây dựng đã chủ động ban hành văn bản hướng dẫn, thông báo các nội dung được giao quy định chi tiết và thiết lập cơ chế tiếp nhận, giải đáp khó khăn, vướng mắc; đồng thời cần tiếp tục tăng cường hướng dẫn theo tình huống, tổ chức tập huấn theo nhóm nghiệp vụ, cập nhật đồng bộ quy trình, biểu mẫu và hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu để hỗ trợ địa phương và doanh nghiệp áp dụng thống nhất các quy định mới.

♦ Xin trân trọng cảm ơn ông!

(Còn tiếp)

▶ Bài 2: Giảm thủ tục, tăng trách nhiệm trong quản lý hoạt động xây dựng

▶ Bài 3: Quản lý chi phí xây dựng sát hơn với thiết kế và thị trường

▶ Bài 4: Phân chia rõ rủi ro trong hợp đồng xây dựng

▶ Bài 5: Quản lý năng lực và hoạt động xây dựng bằng dữ liệu

▶ Bài 6: Dữ liệu BIM đi theo công trình đến giai đoạn vận hành

Bình luận
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công - Nông nghiệp Quảng Trị
  • Dự án Monrei Saigon Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam