QCVN 04-3:2026/BXD về sử dụng năng lượng hiệu quả trong công trình:

Bài 1: Thiết lập yêu cầu kỹ thuật chung về sử dụng năng lượng hiệu quả trong công trình

13:35 15/08/2026
QCVN 04-3:2026/BXD quy định các mức bắt buộc đối với vỏ công trình, điều hòa không khí, chiếu sáng và một số thiết bị điện; đồng thời bổ sung yêu cầu theo dõi hiệu quả năng lượng khi công trình đi vào vận hành.
Bài 1: Thiết lập yêu cầu kỹ thuật chung về sử dụng năng lượng hiệu quả trong công trình
QCVN 04-3:2026/BXD áp dụng đối với một số loại hoặc hỗn hợp các loại công trình có tổng diện tích sàn từ 2.500 m² trở lên. Ảnh minh họa.

Lời Tòa soạn:

Ngày 30/7/2026, Bộ Xây dựng ban hành Thông tư số 61/2026/TT-BXD kèm theo QCVN 04-3:2026/BXD - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Công trình dân dụng - Phần 3: Công trình xây dựng sử dụng năng lượng hiệu quả, có hiệu lực từ ngày 01/02/2027.

QCVN 04-3:2026/BXD quy định các yêu cầu kỹ thuật và quản lý từ thiết kế, xây dựng mới hoặc cải tạo đến vận hành công trình. Tạp chí Xây dựng thực hiện loạt bài nhằm làm rõ những quy định cốt lõi của Quy chuẩn, giải trình của cơ quan soạn thảo và những nội dung cần lưu ý khi áp dụng.

Sáu loại công trình từ 2.500 m²

QCVN 04-3:2026/BXD ban hành Thông tư số 61/2026/TT-BXD thay thế QCVN 09:2017/BXD được ban hành kèm theo Thông tư số 15/2017/TT-BXD.

Theo Vụ Khoa học công nghệ, Môi trường và Vật liệu Xây dựng (KHCN, MT&VLXD), QCVN 09:2017/BXD đã tạo cơ sở kỹ thuật để kiểm soát hiệu quả sử dụng năng lượng trong thiết kế, xây dựng mới và cải tạo công trình. Sau thời gian áp dụng, một số tiêu chuẩn, quy chuẩn và tài liệu viện dẫn đã thay đổi. Công nghệ vật liệu, kính, điều hòa không khí, đèn LED, động cơ điện, thang máy và hệ thống điều khiển cũng tiếp tục phát triển.

Bên cạnh đó, mức tiêu thụ năng lượng thực tế của công trình còn phụ thuộc vào công năng, thời gian hoạt động, chế độ điều khiển, tình trạng thiết bị và cách thức quản lý. Trong khi QCVN 09:2017/BXD chủ yếu kiểm soát yêu cầu trong thiết kế và hệ thống kỹ thuật, việc theo dõi dữ liệu tiêu thụ năng lượng trong vận hành chưa được quy định rõ.

QCVN 04-3:2026/BXD kế thừa những yêu cầu còn phù hợp, cập nhật các chỉ tiêu kỹ thuật và bổ sung mục 2.5 về kiểm soát hiệu quả năng lượng của công trình. Theo đó, việc kiểm soát được nối từ thiết kế, lựa chọn vật liệu và thiết bị đến quá trình sử dụng công trình.

Đáng chú ý, QCVN 04-3:2026/BXD áp dụng khi thiết kế, xây dựng mới hoặc cải tạo công trình có tổng diện tích sàn từ 2.500 m² trở lên, thuộc một loại hoặc hỗn hợp các loại: văn phòng làm việc, khách sạn, bệnh viện, trường học, trung tâm thương mại và nhà chung cư, theo mục 1.1.1.

Ba yếu tố phải được xem xét đồng thời, gồm: (i) hoạt động xây dựng, (ii) tổng diện tích sàn, (iii) và loại công trình. Công trình có diện tích từ 2.500 m² nhưng không thuộc các loại được liệt kê không mặc nhiên thuộc phạm vi áp dụng. Ngược lại, công trình thuộc danh mục nhưng có tổng diện tích sàn dưới 2.500 m² không thuộc phạm vi bắt buộc theo mục 1.1.1.

Quy chuẩn cũng áp dụng đối với công trình hỗn hợp của các loại đã được liệt kê. Tuy nhiên, một số chỉ tiêu vẫn phải xác định theo từng công năng. Chẳng hạn, chú thích Bảng 7 quy định mật độ công suất chiếu sáng của công trình hỗn hợp được xác định theo công suất chiếu sáng và diện tích sàn sử dụng của mỗi loại công năng.

Đối với công trình cải tạo, Chú thích 1 dưới mục 1.1.2 quy định các yêu cầu về vỏ công trình, thông gió và điều hòa không khí, chiếu sáng, thiết bị điện khác được áp dụng cho bộ phận tương ứng được cải tạo. Nội dung kiểm soát hiệu quả năng lượng được áp dụng trong quá trình vận hành theo Chú thích 2 dưới mục này.

Năm nhóm yêu cầu bắt buộc

Mục 1.1.2 QCVN 04-3:2026/BXD xác định năm nhóm nội dung phải kiểm soát, gồm: (i) vỏ công trình; (ii) thông gió và điều hòa không khí; (iii) chiếu sáng; (iv) các thiết bị điện khác; (v) kiểm soát hiệu quả năng lượng của công trình.

Đối với vỏ công trình, mục 2.1 kiểm soát nhiệt truyền qua tường, mái và phần kính của không gian có điều hòa không khí.

Điểm a mục 2.1.2 quy định tường bao bên ngoài phải có tổng nhiệt trở không nhỏ hơn 0,56 m².K/W; mái bằng và mái dốc dưới 15° nằm trực tiếp trên không gian có điều hòa không nhỏ hơn 1,00 m².K/W.

Phần kính được kiểm soát theo tỷ lệ diện tích kính, hướng mặt đứng và khả năng hạn chế nhiệt mặt trời truyền qua kính tại điểm b mục 2.1.2 và Bảng 1. Tác dụng của kết cấu che nắng cố định được xem xét theo Bảng 2 và Bảng 3.

Nếu không áp dụng riêng các yêu cầu đối với tường, mái và kính, điểm c mục 2.1.2 cho phép đánh giá tổng hợp bằng chỉ số truyền nhiệt OTTV. Mức OTTV của tường không vượt quá 60 W/m², của mái không vượt quá 25 W/m².

Theo giải trình của KHCN, MT&VLXD, cách quy định này cho phép người thiết kế lựa chọn giải pháp phù hợp với kiến trúc và điều kiện công trình, nhưng vẫn phải chứng minh khả năng kiểm soát nhiệt qua vỏ bao che.

Đối với thông gió và điều hòa không khí, mục 2.2 quy định cả hiệu suất thiết bị và cách vận hành hệ thống. 

Điểm a mục 2.2.3 yêu cầu điều hòa không khí, hệ thống VRV/VRF và máy sản xuất nước lạnh đạt mức hiệu suất tối thiểu theo loại thiết bị và công suất tại Bảng 4, Bảng 5 và Bảng 6.

Một số thiết bị từ 3,7 kW phải có khả năng tự động điều chỉnh công suất hoặc lưu lượng theo nhu cầu, theo điểm b mục 2.2.3. Hệ thống điều hòa trung tâm phục vụ các khu vực có nhu cầu làm mát khác nhau phải được chia vùng và có khả năng giảm hoặc tắt làm mát theo điểm f đến điểm i mục này.

Đối với không gian điều hòa trung tâm có lưu lượng gió thải từ 2,5 m³/s trở lên, điểm d mục 2.2.3 yêu cầu thiết bị thu hồi năng lượng với hiệu suất tối thiểu 60%, trừ các hệ thống đặc thù được nêu trong Quy chuẩn.

Đối với chiếu sáng, mục 2.3.2.2 và Bảng 7 giới hạn mật độ công suất theo công năng. Mức tối đa là 11 W/m² đối với văn phòng và khách sạn; 13 W/m² đối với bệnh viện; 12 W/m² đối với trường học; 16 W/m² đối với trung tâm thương mại và 3 W/m² đối với khu vực để xe trong nhà.

Mục 2.3.2.3 đồng thời yêu cầu điều khiển chiếu sáng theo khu vực. Chiếu sáng chung, trưng bày và trang trí phải được điều khiển riêng. Gara trong nhà phải có khả năng giảm ít nhất 30% công suất chiếu sáng khi không có hoạt động, trừ khu vực đường xe ra vào tiếp giáp bên ngoài.

Nhóm thiết bị điện khác được quy định tại mục 2.4, gồm động cơ điện, hệ thống đun nước nóng, thang máy và thang cuốn. Các mức hiệu suất được quy định tại Bảng 8, Bảng 9 và Bảng 10.

Đối với thang máy, điểm c mục 2.4.3 yêu cầu đèn và quạt trong cabin tự động tắt khi cabin dừng, không có người và cửa đóng quá 15 phút. Thang cuốn phải tự động giảm tốc khi không có người sử dụng và có thể dừng sau thời gian dài không hoạt động theo điểm d mục này.

Vụ KHCN, MT&VLXD cho biết, các yêu cầu trên nhằm kiểm soát đồng thời những nhóm phụ tải chính của công trình, thay vì chỉ xem xét riêng từng thiết bị.

Bổ sung kiểm soát năng lượng trong vận hành

Một nội dung đáng chú ý của QCVN 04-3:2026/BXD là yêu cầu theo dõi năng lượng khi công trình đi vào sử dụng.

Mục 2.5.1 quy định công trình phải có công tơ điện, thu thập dữ liệu tiêu thụ theo từng tháng và cả năm. Dữ liệu phải đi kèm thông tin về diện tích, công năng, thời gian hoạt động và các hệ thống kỹ thuật của công trình.

Sau 12 tháng khai thác liên tục, đầy đủ theo công năng, công trình phải xác định chỉ số hiệu quả năng lượng theo TCVN 13472:2022, theo mục 2.5.2.

Mục 3.2 giao chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình tự lưu trữ dữ liệu tiêu thụ năng lượng hằng năm.

Theo giải trình của Vụ KHCN, MT&VLXD, Việt Nam chưa có đầy đủ dữ liệu và định mức tiêu thụ năng lượng cho từng loại công trình. Vì vậy, Quy chuẩn trước mắt yêu cầu thu thập dữ liệu và xác định chỉ số, làm cơ sở phục vụ quản lý. QCVN 04-3:2026/BXD chưa quy định phân hạng hoặc mức tiêu thụ tối đa cho từng loại công trình. 

QCVN 04-3:2026/BXD không bắt buộc sử dụng một loại vật liệu, cấu tạo hoặc hãng thiết bị cụ thể. Quy chuẩn đặt ra các mức phải đạt; chủ đầu tư và tư vấn lựa chọn giải pháp nhưng phải có số liệu chứng minh.

Đối với vỏ công trình, căn cứ kiểm tra gồm cấu tạo tường, mái, tỷ lệ kính, hướng mặt đứng, giải pháp che nắng và thông số sản phẩm. Đối với hệ thống kỹ thuật, cần có thông tin về hiệu suất thiết bị, công suất, phân vùng và phương thức điều khiển. Trong vận hành, công trình phải có dữ liệu điện theo tháng, theo năm và chỉ số hiệu quả năng lượng sau 12 tháng.

Các yêu cầu trên tạo thành mặt bằng kỹ thuật chung để kiểm soát hiệu quả năng lượng từ thiết kế, lựa chọn thiết bị đến vận hành công trình. Những nhóm quy định cụ thể về vỏ bao che, hệ thống kỹ thuật và dữ liệu vận hành sẽ được tiếp tục làm rõ trong các bài sau.

Bài 1: Thiết lập yêu cầu kỹ thuật chung về sử dụng năng lượng hiệu quả trong công trình

▶ Bài 2: Kiểm soát năng lượng của các hệ thống kỹ thuật trong công trình

Bài 3: Theo dõi hiệu quả năng lượng trong quá trình vận hành công trình

Bình luận
Công ty IDECO Công ty portcoast
  • Dự án Monrei Saigon Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam