Định mức cho Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng:

Bài 2: Hệ thống định mức được rà soát, chuyển đổi để áp dụng cho dự án ra sao?

07:00 22/08/2026
Hệ thống định mức của công trình đường sắt tương tự ở nước ngoài được rà soát, chuyển đổi một số thành phần hao phí trước khi áp dụng cho Dự án thành phần 2. Việc lựa chọn định mức phải bám sát thiết kế, công nghệ, biện pháp và điều kiện thi công của từng công việc.
Bài 2: Hệ thống định mức được rà soát, chuyển đổi để áp dụng cho dự án ra sao?
Các kỹ sư rà soát bản vẽ, khối lượng và điều kiện thi công để lựa chọn, áp dụng định mức phù hợp cho từng công việc. Ảnh tạo bởi AI.

Hệ thống định mức hiện hành trong nước chưa bao quát đầy đủ công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, trình tự thi công và điều kiện tổ chức thực hiện Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Trong khi đó, việc xây dựng mới toàn bộ định mức bằng khảo sát, thử nghiệm và tổng kết thực tiễn trong nước cần nhiều thời gian, không đáp ứng tiến độ triển khai dự án.

Để xử lý khoảng trống này, Quốc hội cho phép sử dụng định mức, giá xây dựng của dự án đường sắt tương tự trên thế giới đối với những công việc chưa có hoặc chưa phù hợp với hệ thống trong nước. Kết quả phải được quy đổi về thời điểm tính toán (điểm a khoản 12 Điều 3 Nghị quyết số 187/2025/QH15).

Trên cơ sở đó, Bộ Xây dựng đã ban hành 14 nhóm định mức dự toán xây dựng cho Dự án thành phần 2. Hệ thống được hình thành từ việc biên dịch, rà soát và chuyển đổi các bộ định mức của công trình đường sắt tương tự, thay vì xây dựng mới hoàn toàn.

Chuyển đổi có chọn lọc

Theo Viện Kinh tế xây dựng, định mức được cơ bản kế thừa từ hệ thống tham khảo, đồng thời quy đổi, điều chỉnh một số thành phần hao phí để phù hợp với điều kiện áp dụng tại Việt Nam.

Các bộ định mức gốc được xây dựng trong điều kiện tổ chức thi công hợp lý, biện pháp thi công phổ biến và điều kiện thi công bình thường. Những giả định này là cơ sở để xác định lượng vật liệu, lao động và máy thi công cần thiết cho một đơn vị khối lượng công việc (mục 1.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).

Việc chuyển đổi tập trung vào những nội dung có thể xác định lại theo điều kiện áp dụng của dự án, gồm: vật liệu khác, máy khác và các hướng dẫn trong phần thuyết minh. Đối với nội dung đã được rà soát, chuyển đổi, các bên thực hiện theo kết quả chuyển đổi được ban hành (mục 1.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).

Trường hợp vật liệu sử dụng thực tế khác với vật liệu trong định mức, vật liệu thay thế phải có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương. Quy định này cho phép sử dụng vật liệu phù hợp với thiết kế và nguồn cung của dự án nhưng không hạ thấp yêu cầu kỹ thuật (mục 1.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).

Một số định mức chưa xác định sẵn chủng loại, thông số hoặc thành phần vật liệu. Khi áp dụng, chi phí phải được xác định theo vật liệu trong thiết kế. Với bê tông chưa có thành phần cấp phối, đơn vị lập dự toán phải tính bổ sung theo định mức tương ứng, không được coi lượng hao phí đã bao gồm đầy đủ vật liệu cấu thành (mục 1.3.2 Phần 1 Phụ lục I và các phụ lục có mã hiệu HT-0, CL-0).

Cách thiết kế này giữ lại khoảng linh hoạt cần thiết cho dự án. Hệ thống định mức xác định cơ cấu hao phí, còn vật liệu, thiết bị và giải pháp cụ thể phải bám sát hồ sơ thiết kế được duyệt.

Ba thành phần hao phí được xác định thống nhất

Mỗi định mức gồm: mã hiệu, tên công tác, đơn vị tính, thành phần công việc, quy định áp dụng và bảng hao phí. Trong khi đó, bảng hao phí được chia thành vật liệu, lao động và máy thi công.

Hao phí vật liệu là số lượng vật liệu chính, vật liệu phụ, cấu kiện, bộ phận rời và vật liệu luân chuyển cần thiết để hoàn thành một đơn vị khối lượng. Mức hao phí này đã bao gồm hao hụt trong vận chuyển, thi công và lưu trữ tại công trường, trừ trường hợp từng định mức có quy định khác (mục 1.3.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).

Hao phí lao động gồm: lao động trực tiếp, lao động phụ trợ và lao động vận chuyển vật liệu, thiết bị trong công trường. Đối với công việc thi công theo phương pháp công nghiệp hóa, phạm vi vận chuyển nội bộ được tính trong khu vực bãi hoặc trạm tạm. Với các công việc còn lại, phạm vi vận chuyển thông thường được tính trong khoảng 50 m, trừ trường hợp có quy định khác (điểm b mục 1.3.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).

Hao phí máy thi công là số ca máy trực tiếp và máy phục vụ cần thiết để hoàn thành một đơn vị khối lượng. Máy trực tiếp được tính bằng số ca sử dụng; máy phục vụ có thể được tính theo tỷ lệ trên chi phí máy thi công trực tiếp, tùy từng nhóm định mức (điểm c mục 1.3.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).

Việc xác định rõ ba thành phần giúp tránh bỏ sót hoặc tính trùng hao phí. Tuy nhiên, con số trong bảng định mức chỉ phù hợp khi công việc thực tế có yêu cầu kỹ thuật, điều kiện và biện pháp thi công tương ứng.

Không áp dụng đồng loạt cho mọi công việc

Hệ thống 14 nhóm định mức bao quát nhiều chuyên ngành nhưng không đồng nghĩa mỗi mã hiệu có thể sử dụng cho mọi vị trí trên tuyến.

Tổ chức tư vấn thiết kế phải căn cứ yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công và biện pháp thi công để lựa chọn định mức phù hợp với dây chuyền công nghệ của công trình (mục 3.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).

Với những công việc có khả năng cơ giới hóa, định mức thi công hoàn toàn bằng thủ công chỉ được áp dụng khi điều kiện thi công không cho phép sử dụng máy. Quy định này hạn chế việc lựa chọn phương thức thi công không phù hợp để làm thay đổi hao phí lao động và máy thi công (mục 3.3 Phần 1 Phụ lục I và các phụ lục có quy định tương ứng).

Từng nhóm định mức còn xác định những chi phí đã được tính và những chi phí phải xác định riêng. Chẳng hạn, một số định mức đã bao gồm vận chuyển cấu kiện đến vị trí lắp đặt, trong khi một số công việc chỉ tính vận chuyển trong phạm vi công trường. Nếu cự ly hoặc điều kiện thực tế vượt khỏi phạm vi đã quy định, chi phí phải được xác định theo hướng dẫn của phụ lục tương ứng.

Đối với các công việc phụ không được liệt kê riêng nhưng thuộc quy trình cần thiết để hoàn thành công tác xây dựng, hao phí đã được tính trong định mức. Đơn vị lập dự toán không được tiếp tục tính thành một công việc độc lập nếu không có căn cứ khác (mục 1.3.1 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).

Đáng chú ý, do hệ thống được hình thành qua quá trình biên dịch và chuyển đổi, các phụ lục cho phép đối chiếu với định mức gốc khi phát hiện sai khác. Với những nội dung chưa thuộc phần đã được rà soát, chuyển đổi, trường hợp có sai khác thì áp dụng theo định mức gốc. Những nội dung đã chuyển đổi vẫn thực hiện theo kết quả được ban hành (mục 1.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).

Chủ đầu tư có trách nhiệm tổng hợp những vấn đề phát hiện trong quá trình áp dụng và báo cáo Bộ Xây dựng để theo dõi, quản lý. Tổ chức, cá nhân phản ánh vướng mắc về Bộ Xây dựng để được hướng dẫn, giải quyết (mục 1.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV; khoản 2 Điều 3 Thông tư số 63/2026/TT-BXD).

Phạm vi và điều kiện áp dụng hệ thống định mức

Hệ thống 14 nhóm định mức chỉ được sử dụng để lập dự toán xây dựng Dự án thành phần 2 thuộc Dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, không phải bộ định mức chung cho mọi dự án đường sắt (Điều 1 Thông tư số 63/2026/TT-BXD). Việc áp dụng phải phù hợp với quy định về xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng riêng của dự án (Điều 2 Thông tư số 63/2026/TT-BXD).

Vật liệu sử dụng khác với định mức phải có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương. Những nội dung đã được rà soát, chuyển đổi được áp dụng theo kết quả chuyển đổi; vướng mắc phát sinh do chủ đầu tư tổng hợp, báo cáo Bộ Xây dựng để theo dõi và xử lý (mục 1.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).

Khi lập dự toán gói thầu, việc quy đổi phải phù hợp với phạm vi, tính chất chi phí, thời điểm, địa điểm và điều kiện cụ thể của gói thầu; kết quả phải được phân tích, đánh giá và thuyết minh rõ trong dự toán (khoản 2 Điều 32 Nghị định số 123/2025/NĐ-CP).

Bài 1: Lập “thước đo” chi phí cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng

Bài 2Hệ thống định mức được rà soát, chuyển đổi để áp dụng cho dự án ra sao?

Bài 3: Ai chịu trách nhiệm khi áp dụng định mức cho dự án đường sắt?

Bình luận
Công ty IDECO Công ty portcoast