QCVN 01:2026/BXD yêu cầu nghiên cứu cao độ nền và thoát nước trên phạm vi toàn lưu vực, thay vì chỉ xử lý trong ranh giới từng khu đất. Hồ điều hòa, sông, kênh, mương, vùng trũng và diện tích thấm nước phải được tính trong giải pháp chống ngập.
Đối với nông thôn, Quy chuẩn kiểm soát chặt việc lựa chọn đất xây dựng, mở rộng khu dân cư và chuyển đất sản xuất sang chức năng dân dụng. Các chỉ tiêu về nhà ở, cây xanh, dịch vụ công cộng và hạ tầng được xác định riêng theo điều kiện nông thôn.
Xác định mực nước ngập trước khi lựa chọn cao độ nền
Quy hoạch cao độ nền phải nghiên cứu toàn lưu vực để xác định giải pháp trữ nước, thoát nước mặt ở quy mô vùng. Khu vực xây dựng phải được phân loại theo điều kiện tự nhiên thành thuận lợi, ít thuận lợi, không thuận lợi, cấm hoặc hạn chế xây dựng (các điểm 2.7.1.1 và 2.7.1.2).
Quy hoạch phải xác định mức độ rủi ro do thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, bao gồm ảnh hưởng từ các khu vực lân cận. Giải pháp cao độ nền phải tận dụng địa hình, điều kiện tự nhiên và hạn chế khối lượng san nền (các điểm 2.7.1.3-2.7.1.5).
Cao độ nền tại khu vực phát triển mới không được làm giảm khả năng tiêu thoát nước của khu vực hiện hữu. Quy hoạch phải xác định mực nước ngập tính toán để làm rõ mức độ cần bảo vệ của khu vực dân dụng (các điểm 2.7.1.6 và 2.7.1.7).
Thay vì chỉ sử dụng giải pháp tôn nền, Quy chuẩn yêu cầu bổ sung hồ điều hòa, khơi thông dòng chảy của sông, kênh, mương để giảm ngập. Nếu san lấp ao, hồ, kênh, mương, phải có giải pháp duy trì hoặc bù đắp khả năng tiêu thoát và điều tiết nước đã mất (các điểm 2.7.1.8 và 2.7.1.9).
Cao độ nền được xác định trên cơ sở phân loại khả năng chịu ngập của từng khu vực và từng loại công trình. Đối với công trình trọng yếu trong đô thị, cao độ nền tối thiểu phải cao hơn mực nước ngập tính toán 0,3 m tại khu vực dân dụng và 0,5 m tại khu sản xuất công nghiệp, kho tàng (các điểm 2.7.1.10 và 2.7.1.11).
Chu kỳ lặp lại mực nước ngập tính toán đối với trung tâm đô thị, khu dân cư tập trung và khu công nghiệp là 100 năm tại trung tâm đô thị loại đặc biệt, loại I; 50 năm tại đô thị loại II; 10 năm tại đô thị loại III. Đối với cây xanh, công viên, thể dục thể thao, chu kỳ tương ứng là 10 năm, 10 năm và 2 năm (Bảng 13).
Yêu cầu về cao độ nền khống chế không áp dụng với khu vực, công trình được thiết kế để lưu giữ, điều tiết nước mưa, phòng chống ngập hoặc áp dụng giải pháp sống chung với ngập lũ. Tại khu vực chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, cao độ nền phải được kiểm tra theo các kịch bản quốc gia (Chú thích 1 và 2, Bảng 13).
Theo thuyết minh của cơ quan soạn thảo, việc xác định mực nước ngập tính toán nhằm nhận diện mức độ cần bảo vệ của từng khu vực. Hướng sửa đổi tập trung vào duy trì dòng chảy của sông, kênh, mương; hạn chế tôn nền; đồng thời ngăn cao độ của khu phát triển mới gây bất lợi cho khu vực hiện hữu.
Đối với hệ thống thoát nước mặt, quy hoạch phải tăng diện tích và thể tích hồ điều hòa; bảo tồn khu vực trũng, thấp tự nhiên để tạm trữ nước mưa; tăng diện tích bề mặt thấm nước tại công trình giao thông, sân bãi, công trình hạ tầng và khu vực công cộng (điểm 2.7.2.1).
Khu vực hiện hữu phải tăng khả năng liên kết giữa hồ, sông, kênh, rạch để nâng năng lực lưu trữ, điều hòa nước mặt. Khu vực phát triển mới không được làm ảnh hưởng đến khả năng thoát nước của khu vực hiện hữu và phải xây dựng hệ thống thoát nước riêng (các điểm 2.7.2.3, 2.7.2.4 và 2.7.2.6).
Khu vực đã có mạng lưới thoát nước chung phải cải tạo thành hệ thống nửa riêng hoặc hệ thống riêng. Toàn bộ đường đô thị và đường qua khu dân cư nông thôn phải có cống, rãnh thoát nước mặt (các điểm 2.7.2.6 và 2.7.2.7).
Đối với sông, suối chảy qua khu dân cư, quy hoạch phải xác định hành lang bảo vệ tuyến thoát nước chính, duy trì chức năng thoát lũ, gia cố bờ và chống sạt lở. Nếu điều chỉnh tuyến thoát nước vòng tránh khu dân cư, giải pháp mới phải bảo đảm tiêu thoát nước, không gây ngập úng (điểm 2.7.2.10).
Chu kỳ lặp lại trận mưa gây tràn cống đối với kênh, mương lần lượt là 10 năm, 5 năm và 2 năm tại trung tâm đô thị loại đặc biệt, loại I; đô thị loại II và đô thị loại III. Đối với cống chính, chu kỳ tương ứng là 5 năm, 2 năm và 1 năm; cống nhánh là 1 năm, 0,5 năm và 0,33 năm (Bảng 14).
Không gian xanh phải gắn với mặt nước và toàn lưu vực
QCVN 01:2026/BXD chia không gian xanh thành ba nhóm. Không gian xanh tự nhiên gồm rừng, đồi, núi, thảm thực vật ven sông, hồ và ven biển; không gian xanh bán tự nhiên gồm đất sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản; không gian xanh nhân tạo gồm đất cây xanh công cộng, cây xanh chuyên dụng, khu cây xanh sử dụng hạn chế và các dạng phủ xanh khác (điểm 1.5.6.1).
Các nhóm không gian xanh phải được quy hoạch thành một hệ thống liên hoàn. Không gian xanh tự nhiên được bảo vệ theo chức năng sinh thái; không gian bán tự nhiên phải gắn với sản xuất và các chức năng như thoát lũ, cảnh quan nông nghiệp, du lịch; không gian xanh nhân tạo phải được phân bố phù hợp để người dân tiếp cận, sử dụng (các điểm 1.5.6.1-1.5.6.3).
Toàn bộ không gian có mặt nước trong phạm vi quy hoạch phải được nghiên cứu về chức năng sinh thái, thủy văn và cảnh quan trong quan hệ với toàn lưu vực. Yêu cầu bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và xây dựng không gian mặt nước phải được xác định ngay trong giải pháp quy hoạch phát triển (điểm 1.5.6.4).
Các chỉ tiêu đất cây xanh công cộng phải được xác định cho toàn khu vực quy hoạch và từng khu vực, phù hợp mục tiêu bảo vệ môi trường và đặc thù địa phương (điểm 1.5.6.5).
Quy hoạch phải ưu tiên cây bản địa, cây đặc trưng vùng miền; bảo vệ cây quý hiếm, cây cổ thụ có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc cảnh quan. Việc bố trí cây xanh không được ảnh hưởng đến an toàn giao thông, công trình ngầm, công trình trên mặt đất và yêu cầu phòng cháy, chữa cháy (điểm 1.5.6.6).
Không gian xanh cách ly phải được bố trí giữa khu dân cư với khu sản xuất công nghiệp tập trung, công trình xử lý nước thải, chất thải và nghĩa trang. Yêu cầu này cũng áp dụng giữa khu vực xây dựng với hành lang đường điện, đường ống dẫn khí, xăng dầu, đường cao tốc, đường sắt, đường thủy, khu vực dự kiến xây dựng ngầm, khu bảo vệ nguồn nước và đê điều (điểm 1.5.6.7).
Trong điều kiện cho phép, khu dân cư mới phải có không gian xanh cách ly với khu dân cư hiện hữu, nhất là khu vực đã được công nhận có giá trị lịch sử, văn hóa. Chiều rộng dải cây xanh được xác định theo yêu cầu của từng đối tượng và điều kiện thực tế (các điểm 1.5.6.7 và 1.5.6.8).
Theo thuyết minh, các yêu cầu về không gian xanh được xây dựng để áp dụng cho cả đô thị và nông thôn. Việc tổ chức thành hệ thống liên hoàn nhằm bảo vệ cấu trúc sinh thái, hỗ trợ thoát lũ, sử dụng hiệu quả đất đai, nguồn nước và giảm tác động giữa khu vực phát triển mới với khu dân cư hiện hữu.
Đối với quy hoạch chung xã, khu vực bảo tồn hệ sinh thái phải nhận diện rõ rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, vùng đất ngập nước, hành lang sông, suối và cảnh quan đặc thù. Quy hoạch phải thiết lập hành lang bảo vệ sông, suối, hồ, ao, đầm và ưu tiên giải pháp dựa vào tự nhiên như phục hồi rừng, tăng khả năng giữ nước, thấm nước tại chỗ, hình thành vành đai xanh và hành lang xanh (điểm 4.3.3).
Tại nông thôn, cây xanh và mặt nước phải kết hợp với cây phòng hộ ngoài đồng ruộng, cây chắn cát ven biển, cây chống xói mòn nhằm hỗ trợ phòng chống thiên tai, giảm tác động bất lợi đến môi trường sống và sản xuất. Khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chăn nuôi tập trung, nghĩa trang, bãi rác và trạm xử lý nước thải phải bố trí cây xanh cách ly phù hợp (các điểm 4.7.2 và 4.7.4).
Hạn chế mở rộng khu dân cư nông thôn tự phát
Đất xây dựng tại nông thôn phải có điều kiện tự nhiên bảo đảm và có lợi thế về kinh tế, xã hội, hạ tầng kỹ thuật, môi trường. Không được bố trí đất dân dụng tại khu vực có nguy cơ tai biến địa chất, thường xuyên ngập lụt, lũ ống, lũ quét; vùng ven biển và cửa sông phải tính đến mực nước biển dâng (các điểm 4.1.1 và 4.1.2).
Đất dân dụng cũng không được bố trí tại khu vực khai thác mỏ, bảo tồn thiên nhiên, khu khảo cổ hoặc khu vực ô nhiễm chưa được xử lý. Quy hoạch phải hạn chế sử dụng đất canh tác, nhất là đất nông nghiệp năng suất cao; ưu tiên đất đồi, núi, gò bãi và đất có năng suất trồng trọt thấp để phát triển hoặc mở rộng khu dân cư (các điểm 4.1.3-4.1.5).
Quy hoạch chung xã phải phân chia không gian theo ít nhất ba loại hình gồm vùng đô thị hóa, vùng nông nghiệp - nông thôn và vùng tự nhiên (điểm 4.2.1).
Tại vùng đô thị hóa, việc khoanh vùng phải dựa trên ảnh hưởng của đô thị lân cận; đồng thời thiết lập vùng đệm xanh giữa khu dân cư nông thôn với khu vực đô thị hóa để kiểm soát mở rộng tự phát (điểm 4.2.1).
Tại vùng nông nghiệp - nông thôn, quy hoạch phải xác định rõ ranh giới đơn vị ở, hạn chế phát triển lan tỏa, duy trì tính liên tục của đất sản xuất, hệ thống thủy lợi và giao thông nội đồng. Hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật phải được tăng cường nhưng không làm mất cảnh quan truyền thống và hệ thống mặt nước phục vụ tưới, tiêu, thoát nước (điểm 4.2.1).
Vùng tự nhiên phải ưu tiên bảo tồn rừng, nguồn nước, địa hình, cảnh quan và mô hình định cư truyền thống. Mật độ xây dựng và quy mô hạ tầng phải được kiểm soát để không phá vỡ cảnh quan; hạ tầng thiết yếu và phòng chống thiên tai được tổ chức với quy mô phù hợp (điểm 4.2.1).
Đất dân dụng nông thôn phải tuân thủ mạng lưới dân cư do quy hoạch cấp trên xác định. Không bố trí khu dân cư mới tiếp giáp hành lang an toàn giao thông của đường cao tốc, quốc lộ, đường tỉnh và đường liên xã (điểm 4.4.2.1).
Quy mô đất xây dựng phải vừa đủ theo dự báo dân số, tránh phát triển tràn lan hoặc nối liền các khu dân cư riêng lẻ, làm ảnh hưởng đến cấu trúc thủy văn và hệ sinh thái nông nghiệp (điểm 4.4.2.4).
Khu dân cư được bố trí theo cụm, dải hoặc điểm nhỏ phù hợp địa hình và tập quán, nhưng phải kết nối giao thông, hạ tầng chung và bảo đảm vệ sinh môi trường. Các khu dân cư phát triển tự phát dọc tuyến đường, sông, suối phải từng bước sắp xếp vào khu tập trung có quy mô từ 2.000 người trở lên tại đồng bằng, 1.000 người trở lên tại trung du và 400 người trở lên tại miền núi để thuận lợi cung cấp hạ tầng (điểm 4.4.2.8).
Không bố trí đất dân dụng nông thôn mới sát tuyến đường từ cấp liên xã trở lên. Khu dân cư hiện hữu đang bám theo các tuyến đường này phải có khoảng lùi tối thiểu 6 m so với chỉ giới hành lang an toàn đường bộ (điểm 4.4.2.9).
Theo thuyết minh của cơ quan soạn thảo, việc kiểm soát ranh giới khu dân cư nhằm hạn chế mở rộng đất ở tùy tiện, bảo vệ đất nông nghiệp và duy trì cấu trúc cảnh quan nông thôn. Quy hoạch phải gắn khu dân cư với mô hình sản xuất, làng nghề, du lịch cộng đồng, dịch vụ hậu cần và các hình thức kinh tế phù hợp địa phương.
Đơn vị ở nông thôn phải được tổ chức phù hợp mô hình sản xuất, kế thừa cấu trúc định cư truyền thống và hỗ trợ phát triển làng nghề, du lịch cộng đồng, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất nông nghiệp quy mô lớn (điểm 4.5.2.1).
Hệ thống dịch vụ công cộng, cây xanh và hạ tầng cấp đơn vị ở phải phục vụ đại đa số dân cư; hạn chế giảm quỹ đất nông nghiệp và không làm phương hại công trình thủy lợi (điểm 4.5.2.2).
Chỉ tiêu bình quân trong đơn vị ở nông thôn gồm ít nhất 25 m² đất nhà ở/người, 2 m² đất cây xanh công cộng/người và 2 m² đất dịch vụ công cộng/người. Đất giao thông và hạ tầng kỹ thuật phải chiếm tối thiểu 5% tổng diện tích đơn vị ở (Bảng 28).
Chỉ tiêu 25 m² đất nhà ở/người chỉ tính đất xây dựng nhà ở và công trình phụ trợ, không bao gồm đất nông nghiệp gắn với nhà ở. Công trình sản xuất, chăn nuôi trong lô đất ở phải có hệ thống thu gom, xử lý chất thải bảo đảm vệ sinh môi trường (điểm 4.5.2.5; Chú thích 2 và 4, Bảng 28).
Đất dịch vụ công cộng cấp khu vực tại nông thôn phải đạt tối thiểu 2 m²/người. Trong đó, đất giáo dục tối thiểu 0,6 m²/người; y tế 0,2 m²/người; văn hóa - thể thao 1 m²/người; dịch vụ công cộng khác 0,2 m²/người. Khu vực dân cư hoặc xã có từ 20.000 người trở lên phải bố trí trường trung học phổ thông (Bảng 29).
Đất dịch vụ công cộng cấp đơn vị ở phải có bán kính phục vụ không quá 2 km đến đại đa số dân cư. Chỉ tiêu đất giáo dục tối thiểu gồm 0,6 m²/người cho trường mầm non, 0,65 m²/người cho trường tiểu học và 0,55 m²/người cho trường trung học (các điểm 4.6.2.2 và 4.6.2.3; Bảng 30).
Mỗi xã phải có một trạm y tế rộng tối thiểu 500 m² nếu không có vườn thuốc và 1.000 m² nếu có vườn thuốc. Nhà văn hóa có diện tích tối thiểu 1.000 m²/công trình; cụm văn hóa - thể thao tối thiểu 5.000 m²; chợ có quy mô tối thiểu 1.500 m²; điểm bưu chính, viễn thông tối thiểu 150 m² (Bảng 30).
Khu dân cư nông thôn có nguy cơ lũ ống, lũ quét phải có biện pháp bảo vệ, hướng dòng lũ ra khỏi khu vực hoặc di dời khi cần thiết. Khu vực thường xuyên chịu thiên tai phải bố trí điểm sơ tán khẩn cấp và sử dụng công trình công cộng làm nơi tránh trú bão, lụt (điểm 4.10.1).
Nếu áp dụng giải pháp nâng nền, cao độ nền khu dân cư nông thôn phải cao hơn mực nước lũ lớn nhất hằng năm tối thiểu 0,3 m. Việc san nền phải tận dụng địa hình, hạn chế đào đắp, bảo vệ cây lâu năm và lớp đất màu; chỉ san gạt phần đất xây dựng công trình khi cần thiết (các điểm 4.10.2 và 4.10.4). (Hết)
Quy định chuyển tiếp từ ngày 01/01/2027
Quy hoạch đã được phê duyệt trước ngày Quy chuẩn có hiệu lực tiếp tục thực hiện đến hết thời hạn. Khi điều chỉnh phải tuân thủ QCVN 01:2026/BXD (điểm 5.4.1). Quy hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định trước ngày Quy chuẩn có hiệu lực được phê duyệt và thực hiện nếu phù hợp với quy hoạch cấp trên. Khi điều chỉnh phải áp dụng Quy chuẩn mới (điểm 5.4.2). Hồ sơ chưa được thẩm định sau ngày 01/01/2027 phải được rà soát, chỉnh sửa trước khi phê duyệt (điểm 5.4.3). Quy chuẩn địa phương, tiêu chuẩn, quy chế quản lý kiến trúc và văn bản quản lý có nội dung trái với QCVN 01:2026/BXD phải được rà soát, sửa đổi (điểm 5.4.4).
▶ Bài 1: Kiểm soát dân số theo khả năng đáp ứng của hạ tầng
▶ Bài 2: Đơn vị ở phải được tính đủ cây xanh và tiện ích thiết yếu

Quy hoạch phải xác định mực nước ngập tính toán, bảo vệ không gian trữ nước và không để khu phát triển mới làm giảm khả năng thoát nước của khu vực hiện hữu. Khu dân cư nông thôn cũng phải được bố trí theo điều kiện thiên tai, thủy lợi và địa hình tự nhiên. 

