Những điểm mới trong quản lý hoạt động xây dựng:

Bài 3: Quản lý chi phí xây dựng sát hơn với thiết kế và thị trường

07:00 10/09/2026
Nghị định số 206/2026/NĐ-CP phân định lại trách nhiệm quản lý chi phí, mở rộng nguồn dữ liệu để xác định giá, định mức và tăng quyền chủ động của chủ đầu tư trong quản lý tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng.
Bài 3: Quản lý chi phí xây dựng sát hơn với thiết kế và thị trường
Việc xác định và quản lý chi phí xây dựng phải bám sát thiết kế, khối lượng công việc và diễn biến giá thị trường. Ảnh minh hoạ.

Nghị định số 206/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

Nghị định điều chỉnh các nội dung về sơ bộ tổng mức đầu tư, tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng, giá gói thầu, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn, định mức, giá và chỉ số giá xây dựng. Giá hợp đồng, thanh toán, quyết toán hợp đồng và quyết toán vốn đầu tư không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này (Điều 1).

Theo Bộ Xây dựng, Nghị định số 206/2026/NĐ-CP kế thừa cơ cấu 7 khoản mục chi phí và các phương pháp xác định chi phí đã được thực hiện ổn định. Những nội dung sửa đổi tập trung vào ba vấn đề: (i) phân định trách nhiệm quản lý chi phí; (ii) cho phép sử dụng linh hoạt định mức, giá và dữ liệu thị trường; (iii) tăng quyền chủ động của chủ đầu tư nhưng phải kiểm soát trong tổng mức đầu tư được duyệt.

Phân định trách nhiệm quản lý tổng mức đầu tư và dự toán

Nghị định số 206/2026/NĐ-CP thay đổi cách xác định đối tượng áp dụng từ quản lý theo nguồn vốn sang quản lý theo hình thức đầu tư. Các đối tượng áp dụng trực tiếp gồm: dự án đầu tư công, dự án PPP, dự án sử dụng chi thường xuyên từ NSNN và vốn NSNN khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về đầu tư công (khoản 1 Điều 2).

Đối với dự án ngoài phạm vi trên, tổ chức, cá nhân được tham khảo quy định của Nghị định số 206/2026/NĐ-CP để xác định, quản lý chi phí và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình (khoản 2 Điều 2).

Chi phí đầu tư xây dựng được xác định cho dự án, công trình và gói thầu. Việc xác định chi phí phải tương ứng với thiết kế, tiêu chuẩn, quy chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật và công nghệ được sử dụng, làm cơ sở lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư và quản lý hợp đồng (khoản 2 Điều 3).

Tổng mức đầu tư gồm: chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn xây dựng; chi phí khác và chi phí dự phòng (khoản 1 Điều 5). Tổng mức đầu tư được phê duyệt đồng thời với dự án và là mức chi phí tối đa để chủ đầu tư thực hiện dự án (khoản 1 và khoản 2 Điều 9).

Đối với dự án được chia thành các dự án thành phần, chi phí được xác định riêng cho từng dự án thành phần. Trường hợp điều chỉnh một hoặc một số dự án thành phần nhưng không làm thay đổi nội dung, mục tiêu, quy mô, không vượt tổng mức đầu tư của toàn dự án và vẫn bảo đảm hiệu quả đầu tư, chủ đầu tư được tổ chức điều chỉnh mà không phải điều chỉnh tổng mức đầu tư tại Báo cáo nghiên cứu khả thi của toàn dự án (khoản 3 Điều 10).

Theo giải trình của Bộ Xây dựng, quy định này nhằm xử lý vướng mắc ở các dự án hạ tầng quy mô lớn thường được chia thành nhiều dự án thành phần. Trước đây, cơ chế xác định và quản lý chi phí trong trường hợp này chưa rõ, dễ dẫn đến việc phải làm lại thủ tục của toàn dự án dù thay đổi chỉ phát sinh tại một dự án thành phần.

Đối với dự toán xây dựng, chủ đầu tư tổ chức lập và thẩm định cùng với thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt (khoản 1 Điều 16). Cơ quan chuyên môn về xây dựng chỉ thẩm định dự toán đối với công trình thuộc tiểu dự án hoặc hạng mục sử dụng vốn đầu tư công trong dự án PPP (khoản 4 Điều 16).

Nội dung thẩm định của chủ đầu tư gồm: kiểm tra hồ sơ; đối chiếu khối lượng, chủng loại và số lượng thiết bị với thiết kế; xác định giá trị dự toán phù hợp với tổng mức đầu tư, tiêu chuẩn, quy chuẩn, biện pháp thi công, tiến độ và mặt bằng giá thị trường; phân tích nguyên nhân tăng, giảm chi phí so với dự toán do tư vấn lập hoặc thẩm tra (khoản 3 Điều 16).

Như vậy, thủ tục thẩm định dự toán tại cơ quan chuyên môn về xây dựng đối với thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở được bãi bỏ, trừ trường hợp sử dụng vốn đầu tư công trong dự án PPP. Chủ đầu tư được giao quyền thẩm định và phê duyệt, đồng thời chịu trách nhiệm về căn cứ, số liệu và kết quả xác định dự toán.

Nhân viên kỹ thuật thi công dự án hầm đường bộ Hoàng Liên. Ảnh: Đình Quang

Sử dụng linh hoạt định mức, giá và dữ liệu thị trường

Một nội dung đáng chú ý của Nghị định số 206/2026/NĐ-CP là mở rộng căn cứ xác định chi phí. Bên cạnh hệ thống định mức và giá do cơ quan nhà nước ban hành, chủ đầu tư được sử dụng báo giá của nhà sản xuất, nhà cung cấp, giá của công trình tương tự và dữ liệu chi phí trong nước hoặc nước ngoài.

Sơ bộ tổng mức đầu tư được dự tính trên cơ sở quy mô, công suất, năng lực phục vụ, phương án thiết kế sơ bộ; suất vốn đầu tư, suất chi phí, giá nhóm công tác, giá bộ phận, đơn vị kết cấu hoặc dữ liệu của công trình, dự án tương tự. Các dữ liệu phải được phân tích, điều chỉnh phù hợp với địa điểm xây dựng và mặt bằng giá tại thời điểm xác định (khoản 2 Điều 4).

Với dự án quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp hoặc sử dụng công nghệ mới chưa phổ biến tại Việt Nam, nếu trong nước chưa có định mức, giá hoặc dữ liệu phù hợp, có thể tham khảo định mức, giá và dữ liệu chi phí của công trình, dự án tương tự ở nước ngoài. Việc sử dụng phải có phân tích, quy đổi theo điều kiện thực hiện dự án tại Việt Nam (khoản 2 Điều 4 và khoản 5 Điều 6).

Theo Bộ Xây dựng, quy định này tạo căn cứ pháp lý để xác định chi phí cho những dự án như đường sắt tốc độ cao hoặc công trình sử dụng công nghệ mới, khi hệ thống định mức và dữ liệu trong nước chưa đáp ứng.

Đối với định mức xây dựng, Bộ Xây dựng ban hành định mức sử dụng chung trong cả nước. Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành ban hành định mức cho công tác thuộc chuyên ngành chưa có trong hệ thống chung. UBND cấp tỉnh ban hành định mức cho công tác xây dựng trên địa bàn chưa được cơ quan Trung ương ban hành (khoản 1 Điều 20).

Chủ đầu tư và đơn vị lập dự toán được áp dụng, vận dụng hoặc điều chỉnh định mức trên cơ sở hệ thống định mức đã ban hành, công nghệ, biện pháp và điều kiện thi công thực tế. Nếu công tác xây dựng chưa có định mức hoặc định mức không phù hợp, chủ đầu tư dự án đầu tư công phải tổ chức khảo sát, thu thập số liệu, xác định định mức và gửi cơ quan có thẩm quyền để xem xét cập nhật (điểm a, điểm b khoản 5 Điều 20).

Giá công tác xây dựng được xác định từ định mức dự toán và giá các yếu tố chi phí trực tiếp. Giá cũng có thể được xác định từ báo giá của đơn vị thi công, nhà sản xuất, nhà cung cấp hoặc giá của công trình đã thực hiện, đang thực hiện (điểm a khoản 1 Điều 22).

Cơ chế này không loại bỏ hệ thống định mức do Nhà nước ban hành. Điểm thay đổi là cho phép sử dụng nhiều căn cứ hơn, miễn là chủ đầu tư có đủ hồ sơ, dữ liệu và chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình.

Tăng quyền chủ động nhưng không được vượt tổng mức đầu tư

Nghị định giao chủ đầu tư tổ chức xác định và quản lý chi phí từ giai đoạn chuẩn bị dự án đến khi kết thúc xây dựng. Chủ đầu tư phải kiểm tra, rà soát khối lượng, giá xây dựng, yêu cầu kỹ thuật và công nghệ; chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu và việc đánh giá hiệu quả đầu tư trước khi trình thẩm định (khoản 2 và khoản 3 Điều 29).

Trong quá trình thực hiện dự án, chủ đầu tư được điều chỉnh cơ cấu các khoản mục chi phí, kể cả chi phí dự phòng, mà không phải điều chỉnh tổng mức đầu tư. Việc điều chỉnh phải đồng thời đáp ứng bốn điều kiện: không thay đổi mục tiêu; không thay đổi quy mô; không vượt tổng mức đầu tư đã phê duyệt và không làm thay đổi cơ cấu nguồn vốn của dự án (khoản 2 Điều 29).

Đây là quyền chủ động có giới hạn. Chủ đầu tư không được dùng việc điều chỉnh cơ cấu chi phí để làm tăng tổng mức đầu tư hoặc thay đổi nội dung cơ bản của dự án. Người quyết định đầu tư có trách nhiệm kiểm tra việc quản lý chi phí của chủ đầu tư thông qua báo cáo hoặc kế hoạch kiểm tra dự án, công trình (khoản 3 Điều 28).

Nghị định số 206/2026/NĐ-CP cũng yêu cầu hệ thống giá, định mức, chỉ số giá do cơ quan nhà nước ban hành, công bố và dữ liệu chi phí của các dự án đã được phê duyệt phải cập nhật vào Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng (khoản 6 Điều 3). Chủ đầu tư được khai thác dữ liệu này cùng báo giá thị trường và dữ liệu công trình tương tự để xác định chi phí (khoản 4 Điều 29).

Việc ứng dụng công nghệ thông tin và BIM trong xác định, quản lý chi phí do chủ đầu tư quyết định (khoản 5 Điều 29).

Đối với chuyển tiếp, dự án và dự toán xây dựng đã được phê duyệt trước ngày 01/7/2026 không phải phê duyệt lại. Những hoạt động quản lý chi phí tiếp theo chưa thực hiện sẽ áp dụng theo Nghị định mới. Các gói thầu đã ký hợp đồng tiếp tục thực hiện theo hợp đồng và pháp luật về hợp đồng xây dựng (Điều 36).

Nghị định 206/2026/NĐ-CP trao thêm quyền cho chủ đầu tư trong xác định, điều chỉnh và quản lý chi phí. Đổi lại, chủ đầu tư phải có đầy đủ căn cứ về thiết kế, khối lượng, định mức, giá và dữ liệu thị trường, đồng thời chịu trách nhiệm về quyết định của mình. (Còn tiếp)

▶ Bài 1: Chuyển từ tiền kiểm rộng sang tiền kiểm có trọng tâm

▶ Bài 2: Giảm thủ tục, tăng trách nhiệm trong quản lý hoạt động xây dựng

► Bài 3: Quản lý chi phí xây dựng sát hơn với thiết kế và thị trường

▶ Bài 4: Phân chia rõ rủi ro trong hợp đồng xây dựng

▶ Bài 5: Quản lý năng lực và hoạt động xây dựng bằng dữ liệu

▶ Bài 6: Dữ liệu BIM đi theo công trình đến giai đoạn vận hành

Bình luận
Nhà ở xã hội SUNRISE HOME Ngọc Hồi
  • Dự án Monrei Saigon Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam