Từ kiểm soát thiết kế đến dữ liệu vận hành
Các yêu cầu về vỏ công trình, điều hòa không khí, chiếu sáng và thiết bị điện được kiểm soát từ khâu thiết kế, lựa chọn sản phẩm, thi công đến nghiệm thu. Tuy nhiên, công trình đáp ứng các chỉ tiêu kỹ thuật chưa đồng nghĩa mức tiêu thụ năng lượng khi vận hành sẽ giống với tính toán ban đầu. Kết quả thực tế còn phụ thuộc công năng, diện tích được sử dụng, thời gian hoạt động, chế độ điều khiển, tình trạng thiết bị, bảo trì và cách thức quản lý.
Theo nội dung giải trình của Vụ KHCN, MT&VLXD trong quá trình soạn thảo, một số công trình sau khi đưa vào sử dụng có mức tiêu thụ năng lượng thực tế khác với thiết kế, trong khi việc theo dõi dữ liệu vận hành chưa được quy định rõ trong QCVN 09:2017/BXD.
QCVN 04-3:2026/BXD vì vậy bổ sung mục 2.5 về kiểm soát hiệu quả năng lượng của công trình. Nội dung này gồm thu thập dữ liệu tiêu thụ năng lượng tại mục 2.5.1 và xác định chỉ số hiệu quả năng lượng tại mục 2.5.2. Quy chuẩn không đặt ra mức điện năng mà công trình phải đạt sau khi đi vào sử dụng. Yêu cầu trước mắt là hình thành dữ liệu đủ để theo dõi mức sử dụng năng lượng thực tế.
Mục 2.5.1 QCVN 04-3:2026/BXD yêu cầu công trình phải có công tơ điện đo đếm tiêu thụ năng lượng theo thời gian. Chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình tự thu thập dữ liệu hằng năm. Dữ liệu điện có thể lấy từ hóa đơn điện hằng tháng hoặc từ công tơ, theo chú thích dưới mục 2.5.1.
Quy chuẩn yêu cầu tổng hợp điện năng tiêu thụ của toàn công trình theo từng tháng và cả năm. Dữ liệu cả năm được tính bằng kWh/năm. Việc theo dõi theo tháng giúp nhận biết mức sử dụng điện thay đổi trong năm. Số liệu tăng hoặc giảm có thể gắn với thời tiết, thời gian hoạt động, diện tích được đưa vào sử dụng hoặc thay đổi trong vận hành hệ thống.
Yêu cầu cốt lõi của QCVN 04-3:2026/BXD là công trình phải có công tơ và dữ liệu điện theo tháng, theo năm. Việc bố trí thêm công tơ cho từng khu vực hoặc hệ thống có thể được lựa chọn theo quy mô, công năng và nhu cầu quản lý của công trình. Số điện tiêu thụ chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong điều kiện sử dụng cụ thể.
Mục 2.5.1 yêu cầu báo cáo thông tin chung về công trình, gồm: tên, địa chỉ, chủ sở hữu, loại hoặc chức năng công trình, năm đưa vào sử dụng, tổng diện tích sàn, diện tích sử dụng theo công năng hoặc cho thuê và giờ làm việc hằng ngày trong năm. Công trình đồng thời phải thống kê chủng loại, số lượng và công suất thiết bị của hệ thống thông gió, điều hòa không khí, chiếu sáng và cấp nước nóng. Thông tin cần thu thập còn gồm: thời gian vận hành thiết bị tại các khu vực có chức năng khác nhau, loại hệ thống điều khiển, tên thiết bị đo, thời gian đo và diện tích sử dụng năng lượng tương ứng.
Các dữ liệu này giúp xác định điều kiện tạo ra mức tiêu thụ điện của công trình. Hai tòa nhà dùng cùng một lượng điện trong năm nhưng khác nhau về diện tích và thời gian hoạt động không thể được đánh giá giống nhau. Bệnh viện có nhiều khu vực vận hành liên tục; văn phòng chủ yếu hoạt động theo giờ làm việc; khách sạn phụ thuộc công suất sử dụng phòng; trường học hoạt động theo năm học; trung tâm thương mại có thời gian mở cửa và mật độ sử dụng riêng.
Đối với công trình hỗn hợp, việc xác định diện tích và thời gian hoạt động theo từng công năng càng cần thiết. Nếu chỉ có số điện tổng mà không có thông tin về các khu vực sử dụng, dữ liệu khó phản ánh đầy đủ hoạt động của công trình.
Sau 12 tháng xác định chỉ số hiệu quả năng lượng
Mục 2.5.2 quy định, sau khi công trình được khai thác, sử dụng liên tục và đầy đủ theo công năng trong 12 tháng, phải xác định chỉ số hiệu quả năng lượng. Chỉ số được xác định theo TCVN 13472:2022. Mốc 12 tháng cho phép dữ liệu bao quát một chu kỳ vận hành, gồm những thay đổi về thời tiết, mức độ sử dụng và hoạt động của các hệ thống trong năm.
Tuy nhiên, Quy chuẩn không chỉ yêu cầu đủ 12 tháng theo lịch. Công trình còn phải được khai thác liên tục và đầy đủ theo công năng. Với công trình đưa vào sử dụng từng phần, chưa sử dụng hết diện tích hoặc thay đổi công năng trong năm đầu, QCVN 04-3:2026/BXD chưa quy định cụ thể thời điểm bắt đầu tính chu kỳ 12 tháng.
Theo mục 4.2, các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện được gửi về Vụ KHCN, MT&VLXD để hướng dẫn, xử lý.
QCVN 04-3:2026/BXD cũng chưa quy định mức chỉ số tối đa hoặc tối thiểu cho từng loại công trình; chưa đặt ra hệ thống phân hạng, cấp nhãn hoặc ngưỡng đạt, không đạt dựa trên chỉ số này. Vì vậy, xác định chỉ số hiệu quả năng lượng không đồng nghĩa chấm điểm hoặc xếp hạng công trình.
Theo giải trình của Vụ KHCN, MT&VLXD, Việt Nam chưa có đầy đủ dữ liệu và định mức tiêu thụ năng lượng cho từng loại công trình. Quy chuẩn trước mắt yêu cầu xác định và theo dõi chỉ số để hình thành dữ liệu phục vụ quản lý. Việc xây dựng định mức, phân loại hoặc xếp hạng được cơ quan soạn thảo nêu như hướng phát triển trong tương lai, không phải nghĩa vụ hiện hành của QCVN 04-3:2026/BXD.
Mục 3.2 QCVN 04-3:2026/BXD giao chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình tự lưu trữ dữ liệu tiêu thụ năng lượng hằng năm, phục vụ kiểm soát hiệu quả năng lượng theo pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Trách nhiệm này gắn trực tiếp với giai đoạn vận hành. Tư vấn thiết kế phải bố trí giải pháp đo đếm, nhưng chủ sở hữu hoặc đơn vị quản lý là chủ thể thu thập và lưu trữ dữ liệu.
Quy chuẩn chưa quy định thời hạn lưu trữ, mẫu báo cáo bắt buộc hoặc thủ tục gửi dữ liệu định kỳ tới cơ quan quản lý. Để bảo đảm đủ số liệu khi kết thúc chu kỳ 12 tháng, đơn vị quản lý cần xác định nguồn dữ liệu, người chịu trách nhiệm và cách ghi nhận ngay khi công trình bắt đầu hoạt động. Việc tổng hợp vào cuối năm mà không theo dõi thường xuyên có thể dẫn tới thiếu hóa đơn, mất dữ liệu công tơ hoặc không xác định được sự thay đổi về diện tích và thời gian sử dụng.
Dữ liệu năng lượng và kiểm kê khí nhà kính
Dữ liệu năng lượng của công trình còn có thể được sử dụng trong hoạt động kiểm kê khí nhà kính đối với những cơ sở thuộc diện phải thực hiện.
Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 13/2024/TT-BXD ngày 30/12/2024 quy định quy trình, quy định kỹ thuật kiểm kê khí nhà kính và đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính ngành Xây dựng. Thông tư số 13/2024/TT-BXD không phải văn bản hướng dẫn QCVN 04-3:2026/BXD, nhưng dữ liệu về diện tích, công năng, thời gian hoạt động và điện năng tiêu thụ có thể là một phần dữ liệu đầu vào khi thực hiện kiểm kê.
Điện năng tiêu thụ, tính bằng kWh, không phải lượng phát thải khí nhà kính. Để xác định phát thải tính bằng CO₂ tương đương, cơ sở còn phải xác định ranh giới kiểm kê, nguồn phát thải, dữ liệu hoạt động, hệ số phát thải và áp dụng phương pháp tính tương ứng.
Việc một công trình thuộc phạm vi QCVN 04-3:2026/BXD không đồng nghĩa công trình đó mặc nhiên phải kiểm kê khí nhà kính. Đối tượng bắt buộc kiểm kê được xác định theo pháp luật về bảo vệ môi trường và danh mục cơ sở phải kiểm kê do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Do đó, việc thu thập dữ liệu theo mục 2.5 QCVN 04-3:2026/BXD không thay thế quy trình kiểm kê khí nhà kính theo Thông tư số 13/2024/TT-BXD. Đối với cơ sở đồng thời thuộc hai phạm vi, dữ liệu được tổ chức đầy đủ từ đầu có thể hỗ trợ quá trình tổng hợp và lập báo cáo.
QCVN 04-3:2026/BXD bổ sung một bước quản lý sau thiết kế: công trình phải hình thành dữ liệu về mức sử dụng năng lượng thực tế. Bốn nội dung chính gồm có: công tơ điện; thu thập dữ liệu theo tháng và năm; lưu thông tin về diện tích, công năng và hệ thống kỹ thuật; xác định chỉ số hiệu quả năng lượng sau 12 tháng vận hành liên tục, đầy đủ.
QCVN 04-3:2026/BXD chưa đặt định mức hoặc xếp hạng công trình. Dữ liệu trước hết phục vụ chủ sở hữu theo dõi hoạt động, kiểm tra biến động và xem xét điều chỉnh cách vận hành thiết bị. Ở phạm vi rộng hơn, dữ liệu từ các loại công trình là cơ sở để cơ quan quản lý nghiên cứu mức sử dụng năng lượng thực tế, phục vụ việc xây dựng công cụ quản lý phù hợp trong giai đoạn tiếp theo.
▶ Bài 1: Thiết lập yêu cầu kỹ thuật chung về sử dụng năng lượng hiệu quả trong công trình
▶ Bài 2: Kiểm soát năng lượng của các hệ thống kỹ thuật trong công trình
▶ Bài 3: Theo dõi hiệu quả năng lượng trong quá trình vận hành công trình

QCVN 04-3:2026/BXD yêu cầu công trình có công tơ điện, thu thập dữ liệu tiêu thụ theo tháng và năm, xác định chỉ số hiệu quả năng lượng sau 12 tháng vận hành. Đây là nội dung được bổ sung so với QCVN 09:2017/BXD. 

