Thông tư số 63/2026/TT-BXD quy định việc áp dụng các định mức phải phù hợp với quy định về xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng của dự án (Điều 2).
Định mức không phải mức giá cố định
Định mức dự toán xác định lượng vật liệu, lao động và máy thi công cần thiết để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng theo yêu cầu kỹ thuật.
Mức hao phí vật liệu gồm: vật liệu chính, vật liệu phụ, cấu kiện, bộ phận rời và vật liệu luân chuyển cần thiết. Hao phí này đã bao gồm tổn thất trong quá trình vận chuyển, thi công và lưu trữ tại công trường, trừ trường hợp có quy định khác (điểm a mục 1.3.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).
Mức hao phí lao động gồm: lao động trực tiếp, lao động phụ trợ và lao động vận chuyển nội bộ. Đối với công việc thi công theo phương pháp công nghiệp hóa, phạm vi vận chuyển nội bộ được tính trong khu vực bãi hoặc trạm tạm. Với các công việc còn lại, phạm vi này thông thường được tính trong khoảng 50 m, trừ trường hợp có quy định khác (điểm b mục 1.3.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).
Mức hao phí máy thi công là số ca sử dụng máy trực tiếp và máy phục vụ cần thiết để hoàn thành công việc. Máy trực tiếp được tính bằng số ca sử dụng; máy phục vụ có thể được xác định theo tỷ lệ trên chi phí máy thi công trực tiếp (điểm c mục 1.3.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).
Ba thành phần này là căn cứ để tính chi phí, không phải giá trị thanh toán cố định cho từng công việc. Giá trị dự toán còn phụ thuộc khối lượng thiết kế, giá vật liệu, nhân công, máy thi công và điều kiện thực hiện tại thời điểm tính toán.
Nghị định số 123/2025/NĐ-CP yêu cầu việc tính toán, quy đổi phải phù hợp với nội dung, phạm vi, tính chất chi phí, thời điểm, địa điểm xây dựng và điều kiện cụ thể của gói thầu. Kết quả phải được phân tích, đánh giá và thuyết minh rõ trong dự toán (khoản 2 Điều 32 Nghị định số 123/2025/NĐ-CP).
Tư vấn thiết kế lựa chọn định mức
Các phụ lục được xây dựng trên cơ sở tổ chức thi công hợp lý, biện pháp thi công phổ biến và điều kiện thi công bình thường. Trong khi đó, điều kiện địa hình, mặt bằng, vận chuyển và tổ chức thi công có thể khác nhau giữa các vị trí trên tuyến.
Do đó, tổ chức tư vấn thiết kế phải căn cứ yêu cầu kỹ thuật, điều kiện và biện pháp thi công để lựa chọn định mức phù hợp với dây chuyền công nghệ của công trình (mục 3.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).
Trách nhiệm này đòi hỏi tư vấn phải đối chiếu đầy đủ tên công tác, thành phần công việc, đơn vị tính, phạm vi hao phí và hướng dẫn áp dụng trước khi đưa một mã hiệu vào dự toán.
Trong mỗi định mức, bảng hao phí chỉ liệt kê những công việc thi công chính. Các công việc phụ cần thiết để hoàn thành công tác hoặc kết cấu xây dựng dù không được liệt kê riêng vẫn được tính trong định mức (mục 1.3.1 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).
Nếu không kiểm tra kỹ thành phần công việc, một hao phí đã nằm trong định mức có thể tiếp tục được đưa vào dự toán dưới một công việc khác. Ngược lại, chi phí nằm ngoài phạm vi định mức có thể bị bỏ sót.
Từng phụ lục vì vậy có hướng dẫn riêng về những nội dung đã bao gồm và những nội dung phải tính bổ sung. Chẳng hạn, có nhóm định mức đã bao gồm vận chuyển vật liệu, cấu kiện trong một phạm vi xác định; phần vận chuyển ngoài phạm vi đó được tính riêng. Một số công tác bê tông chưa bao gồm thành phần cấp phối, phải bổ sung theo vật liệu thiết kế và định mức tương ứng.
Với công việc có thể thực hiện bằng máy, định mức thi công hoàn toàn bằng thủ công chỉ được sử dụng khi điều kiện thi công không cho phép cơ giới hóa (mục 3.3 Phần 1 Phụ lục I và các phụ lục có quy định tương ứng).
Quy định này giới hạn việc lựa chọn tùy ý giữa lao động thủ công và máy thi công, bởi mỗi phương án tạo ra cơ cấu hao phí khác nhau.
Điều kiện thay đổi phải được tính đúng phạm vi
Hệ thống định mức được xây dựng cho điều kiện thi công bình thường. Khi công việc thực tế khác với điều kiện được mô tả, đơn vị lập dự toán phải kiểm tra hướng dẫn của từng phụ lục trước khi điều chỉnh.
Các định mức về vật liệu cho phép sử dụng chủng loại khác nếu có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương. Trường hợp mã hiệu chưa xác định chủng loại, thông số kỹ thuật hoặc thành phần vật liệu, chi phí được xác định theo hồ sơ thiết kế (mục 1.2 và điểm a mục 1.3.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).
Một số phụ lục quy định hệ số điều chỉnh theo chiều cao thao tác, điều kiện địa hình, công trình cải tạo hoặc hoạt động tháo dỡ. Một số phụ lục lại yêu cầu tính riêng chi phí vận chuyển, vật liệu, thiết bị hoặc công việc chưa nằm trong phạm vi hao phí.
Vì vậy, hệ số điều chỉnh chỉ được sử dụng khi công việc đáp ứng đúng điều kiện quy định. Không thể lấy một hệ số của nhóm công tác này để áp dụng cho nhóm khác nếu phụ lục không cho phép.
Việc xác định đúng phạm vi còn liên quan đến thời điểm lập dự toán. Quốc hội cho phép quy đổi định mức, giá xây dựng của dự án tương tự về thời điểm tính toán; Chính phủ yêu cầu kết quả quy đổi phải phù hợp địa điểm và điều kiện cụ thể của gói thầu (điểm a khoản 12 Điều 3 Nghị quyết số 187/2025/QH15; khoản 2 Điều 32 Nghị định số 123/2025/NĐ-CP).
Trong quá trình áp dụng, nếu phát hiện sai khác so với định mức gốc, các bên thực hiện theo nguyên tắc đối chiếu quy định tại từng phụ lục. Những nội dung đã được rà soát, chuyển đổi như vật liệu khác, máy khác và hướng dẫn áp dụng được thực hiện theo kết quả chuyển đổi đã ban hành (mục 1.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV).
Chủ đầu tư có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo Bộ Xây dựng để theo dõi, quản lý. Các tổ chức, cá nhân gặp vướng mắc cũng có thể phản ánh về Bộ Xây dựng để được hướng dẫn, giải quyết (mục 1.2 Phần 1 các Phụ lục I-XIV; khoản 2 Điều 3 Thông tư số 63/2026/TT-BXD).
Cơ chế này cho phép những vấn đề phát sinh trong thực tế được tập hợp trong quá trình triển khai. Tuy nhiên, Thông tư không quy định mọi trường hợp đều phải chờ Bộ Xây dựng xử lý. Những nội dung đã có hướng dẫn trong thuyết minh và bảng định mức phải được các bên chủ động đối chiếu, áp dụng đúng phạm vi.
Theo Tờ trình của Viện Kinh tế xây dựng, mục tiêu của hệ thống định mức là tạo căn cứ thống nhất cho xác định và quản lý chi phí, đồng thời bảo đảm sự đồng bộ giữa giải pháp thiết kế, công nghệ và phương pháp lập dự toán. Để đạt mục tiêu này, tư vấn phải chọn đúng định mức; đơn vị lập dự toán phải tính đúng thành phần hao phí; chủ đầu tư phải kiểm soát việc áp dụng và tập hợp các vấn đề vượt khỏi hướng dẫn hiện có. Hệ thống định mức là căn cứ chung, còn trách nhiệm sử dụng căn cứ đó thuộc về các chủ thể trực tiếp tham gia dự án.
Ban hành định mức không làm phát sinh thủ tục hành chính mới
Theo hồ sơ trình ban hành, Thông tư không quy định thủ tục hành chính mới; không quy định nội dung phân cấp hoặc điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân cấp. Việc thực hiện sử dụng nguồn nhân lực hiện có của các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia dự án, không đặt ra yêu cầu bổ sung tổ chức bộ máy hoặc nhân lực.
Thông tư cũng không làm phát sinh cơ chế tài chính mới hoặc chi phí tuân thủ bổ sung. Hệ thống định mức được ban hành để tạo căn cứ thống nhất trong lập và quản lý chi phí Dự án thành phần 2. Khi phát sinh vướng mắc trong áp dụng, tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Xây dựng để được hướng dẫn, giải quyết (khoản 2 Điều 3 Thông tư số 63/2026/TT-BXD).
▶ Bài 1: Lập “thước đo” chi phí cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng
▶ Bài 2: Hệ thống định mức được rà soát, chuyển đổi để áp dụng cho dự án ra sao?

Định mức mới xác định hao phí vật liệu, lao động và máy thi công, nhưng không thay thế việc lựa chọn theo thiết kế, công nghệ và điều kiện thực tế. Tư vấn thiết kế chịu trách nhiệm lựa chọn định mức phù hợp; chủ đầu tư tổng hợp vướng mắc, báo cáo Bộ Xây dựng. 

