Khép lại loạt bài giới thiệu QCVN 01:2026/BXD, PV Tạp chí Xây dựng trao đổi với ông Vũ Anh Tú - Phó Vụ trưởng Vụ Quy hoạch - Kiến trúc (Bộ Xây dựng), về mục tiêu sửa đổi Quy chuẩn và những yêu cầu cần chú ý khi áp dụng từ ngày 01/01/2027.
♦ Thưa ông, khi sửa đổi QCVN 01:2021/BXD, yêu cầu đặt ra đối với nội dung kỹ thuật và sự thống nhất giữa các cấp độ quy hoạch là gì?
- QCVN 01:2026/BXD được xây dựng trong bối cảnh hệ thống pháp luật về quy hoạch đô thị và nông thôn có nhiều thay đổi. Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn đã thống nhất quản lý quy hoạch đô thị, nông thôn và khu chức năng trong cùng một hệ thống pháp luật; đồng thời, việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, hệ thống phân loại đô thị và các yêu cầu mới về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đặt ra yêu cầu phải rà soát, hoàn thiện các quy định kỹ thuật về quy hoạch đô thị và nông thôn.
Bên cạnh đó, quá trình thực hiện QCVN 01:2021/BXD cho thấy một số khái niệm, chỉ tiêu và cách thức áp dụng cần được làm rõ để bảo đảm thống nhất trong công tác lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và tổ chức thực hiện quy hoạch.
QCVN 01:2026/BXD do đó tiếp tục hoàn thiện hệ thống chức năng sử dụng đất và yêu cầu cụ thể hóa nội dung phù hợp với từng cấp độ quy hoạch. Mỗi cấp độ quy hoạch có phạm vi và mức độ nghiên cứu khác nhau; quy hoạch cấp dưới có trách nhiệm cụ thể hóa các định hướng của quy hoạch cấp trên, bảo đảm tính thống nhất về chức năng sử dụng đất, tổ chức không gian và hệ thống hạ tầng.
Ví dụ, tại quy hoạch chung, yêu cầu trọng tâm là xác định cơ cấu và định hướng sử dụng đất trên phạm vi toàn đô thị, xã hoặc khu vực lập quy hoạch. Tại quy hoạch phân khu, các định hướng này được cụ thể hóa đối với từng khu vực và các chức năng chủ yếu. Đến quy hoạch chi tiết, việc tổ chức sử dụng đất, không gian, công trình và hệ thống hạ tầng được xác định cụ thể hơn để làm cơ sở quản lý và triển khai đầu tư xây dựng.
Như vậy, yêu cầu xuyên suốt là bảo đảm đúng nội dung, mức độ nghiên cứu của từng cấp độ quy hoạch và tính kế thừa, thống nhất từ quy hoạch cấp trên xuống quy hoạch cấp dưới; hạn chế việc cụ thể hóa ở cấp dưới làm thay đổi các nguyên tắc, định hướng cơ bản đã được xác lập tại quy hoạch cấp trên.
Cùng với nội dung nêu trên, Quy chuẩn tập trung xử lý các vấn đề trực tiếp liên quan đến chất lượng đô thị và nông thôn như dự báo, phân bổ dân số; tổ chức đơn vị ở; trường học; cây xanh; giao thông; cao độ nền, thoát nước và quy hoạch nông thôn.
♦ Qua rà soát thực tiễn và tiếp thu ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương, những vấn đề nào được tập trung xử lý trong Quy chuẩn lần này?
- Qua rà soát thực tiễn và tổng hợp ý kiến của các Bộ, ngành, địa phương, hội nghề nghiệp, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và các tổ chức có liên quan, QCVN 01:2026/BXD tập trung làm rõ đối tượng cần kiểm soát, phạm vi áp dụng các chỉ tiêu và phương pháp tính toán, thay vì chỉ điều chỉnh tăng hoặc giảm một số chỉ tiêu riêng lẻ.
Một trong những nội dung được chú trọng là dự báo và phân bổ dân số. Quy chuẩn làm rõ hơn mối quan hệ giữa dự báo dân số tại quy hoạch chung và việc phân bổ, cụ thể hóa dân số ở các cấp độ quy hoạch tiếp theo, nhằm hạn chế tình trạng mỗi cấp độ quy hoạch xác lập một quy mô dân số mới mà không gắn với sức chứa của khu vực và khả năng đáp ứng của hệ thống hạ tầng.
Đối với đơn vị ở và các công trình phục vụ dân cư, Quy chuẩn xác định rõ hơn quy mô, phạm vi và các yêu cầu cần đáp ứng, đồng thời có sự phân biệt phù hợp giữa đô thị và nông thôn trên cơ sở đặc điểm về mật độ dân cư và hình thái định cư.
Quy chuẩn cũng tăng cường yêu cầu về khả năng tiếp cận các công trình dịch vụ công cộng. Đối với đơn vị ở thuộc khu đô thị xây dựng mới, các công trình dịch vụ công cộng cấp đơn vị ở phải được tổ chức để đại bộ phận dân cư có khả năng tiếp cận trong phạm vi phục vụ theo quy định. Đối với khu vực nông thôn, khoảng cách phục vụ được xác định phù hợp với đặc điểm dân cư và điều kiện địa bàn.
Việc kiểm soát vì vậy không chỉ căn cứ vào tổng diện tích công trình dịch vụ công cộng mà đồng thời xem xét quy mô, vị trí và khả năng phục vụ thực tế.
Đối với cây xanh, yêu cầu cũng không chỉ dừng ở việc đáp ứng tổng diện tích tính theo đầu người mà còn phải xem xét việc tổ chức, phân bố để bảo đảm khả năng tiếp cận. Ví dụ, đối với một đơn vị ở có quy mô 15.000 người, trường hợp áp dụng chỉ tiêu đất cây xanh sử dụng công cộng 2 m²/người thì tổng diện tích đất cây xanh tương ứng phải đạt tối thiểu khoảng 30.000 m². Việc bố trí một công viên hoặc vườn hoa đạt diện tích tối thiểu theo quy định không đồng nghĩa đã đáp ứng toàn bộ yêu cầu về cây xanh của đơn vị ở; tổng quỹ cây xanh vẫn phải được xác định theo quy mô dân số và phân bố hợp lý để phục vụ dân cư.
♦ Vì sao yêu cầu kiểm soát quy mô dân số theo khả năng đáp ứng của đất đai và hệ thống hạ tầng được đặt ra rõ hơn?
- Kiểm soát quy mô dân số phù hợp với khả năng đáp ứng của đất đai, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và môi trường là nguyên tắc quan trọng trong quy hoạch. Dân số không chỉ là số liệu để tính toán nhu cầu đất ở mà còn trực tiếp làm phát sinh nhu cầu đối với trường học, cây xanh, giao thông, bãi đỗ xe, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải và các công trình, dịch vụ thiết yếu khác. QCVN 01:2021/BXD đã đặt ra nguyên tắc kết quả dự báo phải phù hợp với khả năng dung nạp, đáp ứng của đất đai, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và môi trường. QCVN 01:2026/BXD tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc này trong việc tổ chức không gian và phân bổ dân số.
Theo đó, việc phân bổ dân số được yêu cầu phải xem xét khả năng khai thác, sử dụng khu vực hiện hữu và khả năng đáp ứng của hệ thống hạ tầng trước khi mở rộng hoặc bố trí thêm dân cư. Nhu cầu về đất đai, hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật phải được xác định gắn với số dân hoặc số người sử dụng thực tế của từng khu vực.
Yêu cầu này đặc biệt có ý nghĩa đối với các khu đất sử dụng hỗn hợp có chức năng ở. Khi bổ sung chức năng nhà ở hoặc làm gia tăng quy mô dân số, đồ án quy hoạch phải xác định được số dân hoặc số người sử dụng và kiểm tra khả năng đáp ứng tương ứng của hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Ví dụ, một khu đất theo phương án ban đầu được bố trí chức năng thương mại, văn phòng, sau đó đề xuất bổ sung nhà ở cho khoảng 5.000 người thì việc xem xét không thể chỉ căn cứ vào mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất hoặc chiều cao công trình. Quy mô dân số tăng thêm đồng thời làm phát sinh nhu cầu về trường học, cây xanh, giao thông, bãi đỗ xe, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải và các hạ tầng thiết yếu khác.
Trường hợp 5.000 người tăng thêm thuộc phạm vi tính toán đất cây xanh sử dụng công cộng với chỉ tiêu 2 m²/người thì riêng nhu cầu về cây xanh tương ứng đã khoảng 10.000 m². Đồng thời phải kiểm tra khả năng phục vụ của các công trình giáo dục, dịch vụ công cộng, hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật trong khu vực.
Do đó, việc gia tăng dân số phải gắn với việc kiểm tra, đánh giá lại sức chứa của hệ thống hạ tầng và có phương án bổ sung tương ứng khi cần thiết; hạn chế việc điều chỉnh quy hoạch theo hướng chỉ gia tăng diện tích sàn, số lượng nhà ở nhưng không bổ sung hạ tầng phù hợp.
♦ Quy chuẩn kiểm soát việc tổ chức đơn vị ở và khả năng tiếp cận trường học, cây xanh, công trình công cộng như thế nào?
- QCVN 01:2026/BXD tiếp cận đơn vị ở theo hướng là không gian tổ chức đời sống thường xuyên của cộng đồng dân cư, không chỉ là phạm vi để tính toán các chỉ tiêu sử dụng đất. Quy mô đơn vị ở được xác định gắn với phạm vi phục vụ của trường học hoặc công trình công cộng tương ứng. Trong đơn vị ở có các chức năng nhà ở, dịch vụ, dịch vụ công cộng, cây xanh sử dụng công cộng, giao thông, bãi đỗ xe và các chức năng cần thiết khác.
Quy chuẩn kiểm soát đồng thời quy mô dân số, chỉ tiêu cây xanh và khả năng tiếp cận các công trình dịch vụ công cộng. Đối với khu vực phát triển mới, việc bố trí công viên, vườn hoa, sân chơi, bãi đỗ xe và các công trình phục vụ dân cư phải bảo đảm khả năng tiếp cận thuận lợi, trong đó cần quan tâm đến các nhóm đối tượng như trẻ em, người cao tuổi.
Ví dụ, đối với một khu đô thị mới có quy mô dân số 16.000 người, trường hợp áp dụng chỉ tiêu 2 m² cây xanh sử dụng công cộng/người thì tổng diện tích đất cây xanh tương ứng khoảng 32.000 m². Tuy nhiên, việc đáp ứng đủ 32.000 m² về tổng diện tích chưa phải là điều kiện duy nhất. Quỹ cây xanh, vườn hoa và sân chơi phải được tổ chức, phân bố phù hợp để phục vụ các nhóm dân cư, tránh tập trung toàn bộ tại một khu vực khó tiếp cận.
Quy chuẩn đồng thời đặt ra yêu cầu xử lý các trường hợp khả năng tiếp cận bị chia cắt bởi những tuyến giao thông lớn. Trên thực tế, một công trình công cộng có thể chỉ cách khu dân cư vài trăm mét theo khoảng cách hình học nhưng nếu bị tuyến giao thông chính chia cắt mà không có giải pháp kết nối an toàn thì khả năng phục vụ thực tế vẫn bị hạn chế.
Đối với khu vực nông thôn, phạm vi và khoảng cách phục vụ được xác định phù hợp với đặc điểm mật độ dân cư và hình thái định cư, qua đó phản ánh sự khác biệt giữa khu vực dân cư đô thị tập trung và khu vực dân cư nông thôn có tính chất phân tán.
♦ Quy chuẩn yêu cầu nghiên cứu cao độ nền, thoát nước trên phạm vi lưu vực. Cách tiếp cận này có ý nghĩa thế nào đối với phòng, chống ngập?
- QCVN 01:2026/BXD tiếp cận vấn đề cao độ nền và thoát nước trên cơ sở lưu vực có liên quan, thay vì chỉ xem xét trong phạm vi từng khu đất hoặc dự án riêng lẻ.
Khi lập quy hoạch cao độ nền phải nghiên cứu bối cảnh lưu vực để đề xuất các giải pháp trữ nước, thoát nước mặt ở quy mô phù hợp; đồng thời phải xem xét nguy cơ thiên tai, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và ảnh hưởng của phương án phát triển đối với các khu vực lân cận.
QCVN 01:2026/BXD yêu cầu tận dụng địa hình và điều kiện tự nhiên, hạn chế khối lượng san nền; việc xác định cao độ đối với khu vực phát triển mới không được làm ảnh hưởng bất lợi đến khả năng tiêu thoát nước của khu vực hiện hữu. Giải pháp phòng, chống ngập không chỉ dựa vào phương án nâng cao độ nền mà phải kết hợp phương án hồ điều hòa, sông, kênh, mương, các không gian trữ nước và diện tích mặt phủ có khả năng thấm nước. Ví dụ, đối với một khu đô thị mới nằm ở vị trí có cao độ cao hơn khu dân cư hiện hữu ở phía hạ lưu, đồ án không thể chỉ chứng minh bản thân khu đô thị mới không bị ngập. Cần đồng thời đánh giá việc san lấp, gia tăng bề mặt không thấm nước và thay đổi dòng chảy có làm tăng lượng nước hoặc tốc độ tập trung dòng chảy về khu dân cư hiện hữu hay không.
Trường hợp trong khu vực có vùng trũng tự nhiên đang có chức năng lưu giữ, điều hòa nước thì cần đánh giá vai trò của vùng trũng trước khi đề xuất san lấp và có giải pháp trữ, điều hòa nước phù hợp.
Đối với khu vực hiện hữu, việc quản lý hệ thống hồ, sông, kênh, mương và các không gian mặt nước cần gắn với yêu cầu duy trì, nâng cao khả năng lưu trữ và điều hòa nước. Đối với khu vực phát triển mới, hệ thống thoát nước phải được nghiên cứu đồng bộ ngay trong quá trình lập quy hoạch, tránh tình trạng sau khi đầu tư xây dựng mới xử lý các vấn đề phát sinh về ngập úng.
Đối với nông thôn, giải pháp cao độ nền phải tận dụng địa hình tự nhiên, hạn chế san lấp, đào đắp; bảo vệ mặt nước, cây lâu năm, lớp đất màu và kết hợp với hệ thống thủy lợi, tiêu thoát lũ.
Nguyên tắc này bảo đảm giải pháp phòng, chống ngập không thể chỉ dựa trên việc thay đổi, nâng cao độ nền của từng khu vực riêng lẻ; quy hoạch cần giải quyết đồng bộ việc bảo vệ khu vực có nguy cơ bị ảnh hưởng, xác định không gian lưu giữ nước và tổ chức hướng thoát nước phù hợp theo phạm vi của lưu vực.
♦ Địa phương cần lưu ý điều gì để quy hoạch nông thôn đáp ứng nhu cầu phát triển mà vẫn bảo vệ đất sản xuất, cấu trúc làng xóm và hệ thống thủy lợi?
- QCVN 01:2026/BXD làm rõ hơn các yêu cầu đối với quy hoạch nông thôn trên cơ sở mối quan hệ giữa khu dân cư, không gian sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên, hệ thống thủy lợi và cấu trúc định cư truyền thống.
Quy hoạch chung xã được yêu cầu phải nhận diện về điều kiện tự nhiên, cấu trúc dân cư - sản xuất và động lực kinh tế - xã hội để tổ chức các khu vực phát triển phù hợp; trong đó cần phân biệt khu vực có xu hướng đô thị hóa, khu vực sản xuất nông nghiệp - nông thôn và các không gian tự nhiên cần được bảo vệ.
Đối với khu vực nông nghiệp - nông thôn, cần xác định rõ phạm vi các khu dân cư, hạn chế mở rộng lan tỏa và hợp khối thiếu kiểm soát giữa các điểm dân cư hiện hữu; duy trì tính liên tục của không gian sản xuất nông nghiệp, hệ thống thủy lợi và giao thông nội đồng; đồng thời bảo vệ cảnh quan truyền thống, mặt nước và hệ thống tưới tiêu, thoát nước.
Ví dụ, đối với một xã có tuyến tỉnh lộ đi qua, việc thuận lợi về giao thông không đồng nghĩa với việc toàn bộ hai bên tuyến đường đều cần được quy hoạch thành dải dân cư liên tục. Phát triển nhà ở kéo dài theo tuyến có thể làm chia cắt đồng ruộng, cản trở hệ thống tưới tiêu, gia tăng các điểm đấu nối giao thông và ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức sản xuất. Quy hoạch cần ưu tiên củng cố các khu dân cư hiện hữu, duy trì tính liên tục của không gian sản xuất và lựa chọn vị trí mở rộng trên cơ sở nhu cầu và điều kiện thực tế.
QCVN 01:2026/BXD đồng thời đặt ra yêu cầu bảo tồn hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên, nhận diện và bảo vệ các khu vực có giá trị về rừng, đất ngập nước, hành lang sông, suối và các cảnh quan đặc thù; khuyến khích các giải pháp dựa vào thiên nhiên, tăng khả năng giữ nước, thấm nước và tổ chức hành lang xanh phù hợp.
Trong lựa chọn đất xây dựng phải xem xét các nguy cơ về tai biến địa chất, ngập lụt, lũ ống, lũ quét và các tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng đối với những khu vực có liên quan. Việc phát triển xây dựng cần hạn chế ảnh hưởng đến đất canh tác, đặc biệt là đất nông nghiệp có giá trị và hiệu quả sản xuất cao.
Không gian sản xuất nông nghiệp phải được xem xét đồng bộ với hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng, kho bãi và các dịch vụ phục vụ sản xuất; hạn chế chia cắt không cần thiết các vùng sản xuất và bảo đảm sự liên tục của hành lang sông, suối, kênh mương và công trình thủy lợi. Ví dụ, khi có nhu cầu mở rộng một khu dân cư thêm khoảng 10 ha thì phương án quy hoạch không nên chỉ căn cứ vào yếu tố gần đường giao thông. Trường hợp khu đất dự kiến mở rộng là vùng sản xuất nông nghiệp ổn định, có tuyến kênh tưới tiêu chính đi qua, trong khi khu vực khác có điều kiện địa hình phù hợp hơn, giá trị sản xuất nông nghiệp thấp hơn và vẫn có khả năng kết nối hạ tầng thì cần xem xét, so sánh để lựa chọn phương án ít ảnh hưởng hơn đến đất sản xuất và hệ thống thủy lợi.
Việc nâng cao điều kiện sống, hạ tầng và dịch vụ ở nông thôn cần được thực hiện đồng thời với việc duy trì cấu trúc không gian, điều kiện sản xuất và các giá trị đặc trưng của khu vực nông thôn, không đồng nhất phát triển nông thôn với việc chuyển toàn bộ cấu trúc nông thôn sang mô hình đô thị.
♦ Trước khi Quy chuẩn có hiệu lực từ ngày 01/01/2027, các cơ quan quản lý, địa phương và đơn vị tư vấn cần chuẩn bị những gì?
- QCVN 01:2026/BXD có hiệu lực từ ngày 01/01/2027. Để bảo đảm áp dụng thống nhất Quy chuẩn trong quá trình lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và tổ chức thực hiện quy hoạch, các cơ quan quản lý, địa phương và đơn vị tư vấn cần lưu ý một số nội dung sau:
Thứ nhất, rà soát cơ sở dữ liệu và phương pháp dự báo dân số, bảo đảm dự báo có căn cứ, phù hợp với xu hướng phát triển và được kiểm chứng với khả năng đáp ứng của đất đai, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và môi trường.
Thứ hai, trong quá trình lập quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết cần kiểm soát việc phân bổ và cụ thể hóa dân số theo quy hoạch cấp trên. Khi bổ sung chức năng nhà ở hoặc làm gia tăng dân số tại các khu đất sử dụng hỗn hợp phải xác định số dân, số người sử dụng và kiểm tra khả năng đáp ứng của hệ thống hạ tầng tương ứng.
Thứ ba, cần bảo đảm tính thống nhất giữa các cấp độ quy hoạch. Quy hoạch cấp dưới phải cụ thể hóa quy hoạch cấp trên với mức độ chi tiết phù hợp, không tùy ý làm thay đổi các định hướng cơ bản về chức năng sử dụng đất, dân số, hệ thống hạ tầng và tổ chức không gian đã được xác lập. Ví dụ, trường hợp tại quy hoạch cấp trên một khu vực được xác định để bố trí công trình dịch vụ, cây xanh hoặc hạ tầng phục vụ một phạm vi dân cư nhất định thì khi cụ thể hóa tại quy hoạch cấp dưới cần bảo đảm vai trò và yêu cầu phục vụ đã được xác định. Việc điều chỉnh để bổ sung nhà ở làm phát sinh thêm dân số đồng thời phải xem xét lại đầy đủ khả năng đáp ứng của hệ thống hạ tầng đã được tính toán cho quy mô dân số ban đầu.
Thứ tư, trong quá trình lập và thẩm định quy hoạch cần kiểm tra đồng thời chỉ tiêu và khả năng tiếp cận. Việc đáp ứng đủ tổng diện tích trường học, cây xanh hoặc công trình công cộng trên bảng thống kê chưa đủ nếu vị trí, phạm vi phục vụ hoặc điều kiện tiếp cận trên thực tế chưa phù hợp.
Thứ năm, đối với cao độ nền và thoát nước, phạm vi nghiên cứu phải xem xét lưu vực có liên quan, không chỉ giới hạn trong ranh giới của từng dự án. Cần đánh giá ảnh hưởng của phương án san nền đối với khu vực hiện hữu, khả năng lưu trữ nước của hồ, sông, kênh, mương và các vùng trũng tự nhiên.
Thứ sáu, đối với quy hoạch chung xã, cần nhận diện ngay từ đầu các khu vực sản xuất nông nghiệp, khu dân cư, khu vực có xu hướng đô thị hóa và các không gian tự nhiên cần bảo vệ; đồng thời xác định các yêu cầu kiểm soát về hệ sinh thái, tài nguyên nước, ngập lũ, thủy lợi và đất sản xuất để làm cơ sở cho việc cụ thể hóa ở các bước tiếp theo.
Việc áp dụng QCVN 01:2026/BXD cần được thực hiện trên cơ sở hiểu đúng đối tượng, phạm vi và phương pháp áp dụng từng yêu cầu của Quy chuẩn, thay vì chỉ đối chiếu các chỉ tiêu định lượng trong bảng biểu. Qua đó, Quy chuẩn là công cụ để kiểm soát chất lượng quy hoạch, bảo đảm sự cân đối giữa dân số, sử dụng đất, hạ tầng, môi trường và điều kiện tự nhiên trong quá trình phát triển đô thị và nông thôn.
♦ Trân trọng cảm ơn ông!
▶ Bài 1: Kiểm soát dân số theo khả năng đáp ứng của hạ tầng
▶ Bài 2: Đơn vị ở phải được tính đủ cây xanh và tiện ích thiết yếu
▶ Bài 3: Hạn chế tôn nền, giữ không gian thoát nước trong quy hoạch

Trao đổi với PV Tạp chí Xây dựng, ông Vũ Anh Tú - Phó Vụ trưởng Vụ Quy hoạch - Kiến trúc (Bộ Xây dựng), nhấn mạnh: khi bố trí thêm dân cư, quy hoạch phải tính đủ trường học, cây xanh và hạ tầng phục vụ; khi mở rộng xây dựng, phải xét cả khả năng thoát nước của khu vực lân cận. 

