Nghị định số 212/2026/NĐ-CP ngày 17/6/2026 của Chính phủ quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, Hệ thống thông tin và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Nghị định số 212/2026/NĐ-CP điều chỉnh hai nhóm vấn đề có quan hệ trực tiếp với nhau. Một là điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng và giấy phép hoạt động của nhà thầu nước ngoài. Hai là việc tạo lập, cập nhật, khai thác dữ liệu về quy hoạch, dự án, công trình, chi phí và năng lực hoạt động xây dựng.
Theo giải trình của cơ quan soạn thảo, dữ liệu của ngành Xây dựng thời gian qua còn phân tán; việc kê khai, cập nhật thông tin năng lực chưa được kiểm soát thống nhất; dữ liệu hình thành trong quá trình giải quyết thủ tục chưa được sử dụng đầy đủ cho các thủ tục tiếp theo. Nghị định số 212/2026/NĐ-CP xử lý những điểm này bằng ba thay đổi chính.
Tổ chức tự công khai năng lực, cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề
Luật Xây dựng năm 2025 không tiếp tục quản lý năng lực của tổ chức bằng chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng. Thay vào đó, tổ chức tham gia hoạt động xây dựng tự công khai thông tin năng lực trên Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng. Nội dung công khai gồm thông tin chung, lĩnh vực hoạt động, nhân sự, kinh nghiệm và những thông tin liên quan đến năng lực thực hiện công việc xây dựng (Điều 41).
Tổ chức phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đầy đủ, chính xác của thông tin đã công khai. Chủ đầu tư có thể sử dụng thông tin này để xem xét, lựa chọn nhà thầu, nhưng việc công khai không thay cho trách nhiệm đánh giá năng lực của nhà thầu theo pháp luật về đấu thầu, xây dựng và hợp đồng.
Cơ quan soạn thảo cho rằng cách quản lý này phù hợp với quy định mới của Luật Xây dựng. Cơ quan nhà nước không thực hiện một thủ tục riêng để xác nhận năng lực của từng tổ chức. Thông tin do tổ chức công khai, kết quả thực hiện công việc và dữ liệu phát sinh trong quá trình hoạt động sẽ là căn cứ để chủ đầu tư, cơ quan quản lý và các bên liên quan kiểm tra.
Đối với cá nhân, Nghị định số 212/2026/NĐ-CP vẫn quy định cấp chứng chỉ hành nghề trong các lĩnh vực khảo sát xây dựng; quy hoạch đô thị và nông thôn; thiết kế xây dựng; thiết kế hệ thống cơ điện; giám sát thi công xây dựng (Điều 28). Một số công việc không yêu cầu chứng chỉ, như thiết kế sơ bộ trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi; thiết kế hệ thống thông tin liên lạc, viễn thông; thiết kế, giám sát công tác hoàn thiện không ảnh hưởng đến kết cấu chịu lực; công viên cây xanh, chiếu sáng công cộng và đường cáp viễn thông (khoản 3 Điều 27).
Điều kiện cấp chứng chỉ được xác định theo trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tế trong mười năm gần nhất. Cá nhân đề nghị cấp chứng chỉ hạng I phải có ít nhất bảy năm kinh nghiệm; hạng II ít nhất bốn năm; hạng III ít nhất hai năm đối với trình độ đại học hoặc ba năm đối với trình độ cao đẳng (khoản 4 Điều 33).
Hồ sơ có thể nộp trực tiếp, qua bưu chính hoặc trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Thời hạn cấp mới là sáu ngày làm việc kể từ khi có thông báo đủ điều kiện sau đánh giá; cấp lại là năm ngày; chuyển đổi chứng chỉ là 11 ngày. Nếu hồ sơ thiếu hoặc không hợp lệ, cơ quan giải quyết phải thông báo một lần bằng văn bản trong năm ngày làm việc (Điều 30).
UBND cấp tỉnh tổ chức cấp chứng chỉ hành nghề và có thể phân cấp, ủy quyền theo quy định. Việc đưa thẩm quyền về địa phương nhằm gắn trách nhiệm giải quyết thủ tục với nơi cá nhân hoạt động và giảm khâu trung gian (Điều 31).
Mỗi quy hoạch, dự án, công trình gắn với một mã định danh
Nghị định số 212/2026/NĐ-CP xác định các nhóm dữ liệu chính của Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, gồm quy hoạch đô thị và nông thôn; dự án đầu tư xây dựng, công trình xây dựng; định mức, giá xây dựng và chỉ số giá xây dựng; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; năng lực của tổ chức, cá nhân; dữ liệu được chia sẻ từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác và hồ sơ đã được số hóa (Điều 6).
Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý và vận hành hệ thống trên phạm vi cả nước. Cơ quan chuyên môn ở địa phương, cơ quan giải quyết thủ tục và các tổ chức liên quan có trách nhiệm cung cấp, kiểm tra, cập nhật, kết nối và chia sẻ dữ liệu thuộc phạm vi quản lý (Điều 5).
Điểm cốt lõi là mỗi đối tượng được quản lý bằng một mã định danh thống nhất. Mỗi quy hoạch đô thị và nông thôn được cấp một mã khi thông tin được cập nhật lần đầu vào cơ sở dữ liệu (Điều 10). Mã quy hoạch được khởi tạo trên hệ thống khi hồ sơ được gửi thẩm định. Cơ quan tổ chức lập quy hoạch nhập dữ liệu; sau khi quy hoạch được phê duyệt, cơ quan thẩm định phối hợp kiểm tra và cập nhật hồ sơ theo thời hạn quy định (Điều 12).
Dự án đầu tư xây dựng và công trình xây dựng cũng được tạo lập dữ liệu, gắn mã định danh trong quá trình thực hiện các thủ tục. Cơ quan giải quyết thủ tục kiểm tra, chuẩn hóa thông tin do chủ đầu tư, tổ chức hoặc cá nhân nhập trước khi đưa vào cơ sở dữ liệu (Điều 13).
Đối với năng lực hoạt động xây dựng, mã định danh được tạo trên cơ sở số định danh cá nhân, số hộ chiếu hoặc mã số doanh nghiệp. Các lần cấp mới, cấp lại, điều chỉnh hoặc chuyển đổi chứng chỉ tiếp tục cập nhật vào cùng một mã, không tạo thành những hồ sơ rời nhau. Cơ quan có thẩm quyền chỉ ban hành kết quả giải quyết thủ tục khi mã định danh hợp lệ và dữ liệu bắt buộc đã đầy đủ (Điều 21).
Theo cơ quan soạn thảo, việc sử dụng mã định danh nhằm khắc phục tình trạng một quy hoạch, dự án, công trình hoặc chủ thể có nhiều bộ thông tin khác nhau tại các cơ quan. Mã định danh giúp kết nối các thủ tục phát sinh trong suốt quá trình chuẩn bị, thực hiện và đưa công trình vào sử dụng. Khi có thay đổi, cơ quan và chủ thể liên quan cập nhật vào dữ liệu đã được tạo lập, thay vì mở một hồ sơ độc lập.
Nghị định số 212/2026/NĐ-CP cũng quy định trách nhiệm theo nguồn dữ liệu. Thông tin hình thành từ kết quả giải quyết thủ tục do cơ quan nhà nước kiểm tra, chuẩn hóa, xác thực và cập nhật. Thông tin do chủ đầu tư, tổ chức hoặc cá nhân tự kê khai thì người cung cấp phải chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác và thời điểm cập nhật.
Không yêu cầu nộp lại thông tin đã có
Việc tạo lập cơ sở dữ liệu chỉ có ý nghĩa khi dữ liệu được sử dụng lại. Vì vậy, Nghị định số 212/2026/NĐ-CP quy định cơ quan nhà nước không được yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại giấy tờ hoặc thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng (khoản 4 Điều 22).
Nguyên tắc này áp dụng khi dữ liệu đã đầy đủ, còn hiệu lực và cơ quan giải quyết thủ tục có thể khai thác theo thẩm quyền. Trường hợp dữ liệu chưa có, chưa đầy đủ hoặc có sai lệch, tổ chức, cá nhân vẫn phải cung cấp, bổ sung hoặc đề nghị điều chỉnh theo quy định.
Kết quả cấp chứng chỉ hành nghề được cung cấp dưới dạng điện tử, gắn với mã định danh của cá nhân và có giá trị pháp lý tương đương bản giấy (khoản 6 Điều 21). Mã chứng chỉ gồm tám chữ số, được hệ thống cấp tự động, gắn với mã định danh cá nhân và giữ nguyên khi cấp lại hoặc chuyển đổi chứng chỉ (khoản 7 và khoản 8 Điều 27).
Người khai thác dữ liệu được sử dụng dữ liệu mở và đề nghị cung cấp những dữ liệu khác mà mình có quyền tiếp cận. Việc sử dụng phải đúng mục đích, đúng phạm vi; không được tự ý sửa, xóa, phát tán thông tin hoặc làm ảnh hưởng đến an toàn của hệ thống. Người sử dụng tài khoản phải chịu trách nhiệm về hoạt động khai thác dữ liệu bằng tài khoản của mình (Điều 22).
Cơ quan soạn thảo giải trình rằng quy định này chuyển cách giải quyết thủ tục từ kiểm tra lại hồ sơ giấy sang kiểm tra dữ liệu. Những thông tin đã được cơ quan có thẩm quyền xác thực không phải kê khai và chứng minh lại ở thủ tục sau. Cách làm này cũng buộc cơ quan giải quyết thủ tục phải cập nhật dữ liệu ngay từ lần đầu, thay vì tiếp tục yêu cầu người dân, doanh nghiệp mang lại giấy tờ đã được chính cơ quan nhà nước ban hành.
Nghị định số 212/2026/NĐ-CP có quy định chuyển tiếp để không làm gián đoạn hoạt động của cá nhân. Chứng chỉ hành nghề đã được cấp theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn tiếp tục được sử dụng đến hết thời hạn ghi trên chứng chỉ (khoản 5 Điều 55). Hồ sơ nộp trước ngày Nghị định số 212/2026/NĐ-CP có hiệu lực được xử lý theo quy định chuyển tiếp tại Điều 55.
Với Nghị định số 212/2026/NĐ-CP, việc quản lý không dừng ở cấp chứng chỉ hay tiếp nhận từng bộ hồ sơ. Thông tin về năng lực, quy hoạch, dự án và công trình được tạo lập trong một hệ thống chung, gắn với mã định danh và được cập nhật trong quá trình giải quyết thủ tục. Tổ chức chịu trách nhiệm về thông tin tự công khai; cá nhân chịu trách nhiệm về hồ sơ hành nghề; cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm đối với dữ liệu do mình kiểm tra, xác thực và ban hành. (Còn tiếp)
▶ Bài 1: Chuyển từ tiền kiểm rộng sang tiền kiểm có trọng tâm
▶ Bài 2: Giảm thủ tục, tăng trách nhiệm trong quản lý hoạt động xây dựng
▶ Bài 3: Quản lý chi phí xây dựng sát hơn với thiết kế và thị trường
▶ Bài 4: Phân chia rõ rủi ro trong hợp đồng xây dựng
► Bài 5: Quản lý năng lực và hoạt động xây dựng bằng dữ liệu
▶ Bài 6: Dữ liệu BIM đi theo công trình đến giai đoạn vận hành

Thông tin năng lực của tổ chức, cá nhân cùng dữ liệu quy hoạch, dự án và công trình được chuẩn hóa, gắn mã định danh và sử dụng lại khi giải quyết thủ tục. Cơ quan nhà nước không được yêu cầu người dân, doanh nghiệp nộp lại những thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu. 

