Những điểm mới trong quản lý hoạt động xây dựng:

Bài 6: Dữ liệu BIM đi theo công trình đến giai đoạn vận hành

07:00 13/09/2026
BIM được áp dụng từ khi lập dự án, tiếp tục cập nhật trong các bước thiết kế, thi công, nghiệm thu và hoàn công. Dữ liệu sau đó được bàn giao cho đơn vị quản lý, vận hành công trình, thay vì kết thúc cùng hồ sơ thiết kế.
Bài 6: Dữ liệu BIM đi theo công trình đến giai đoạn vận hành
Dữ liệu BIM được sử dụng để đối chiếu, kiểm tra công trình trong quá trình thiết kế, thi công, hoàn công và quản lý vận hành. Ảnh minh họa tạo bởi AI trên nền ảnh công trường thực tế.

Nghị định số 217/2026/NĐ-CP ngày 19/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Trong đó, Điều 8 quy định về ứng dụng mô hình thông tin công trình (BIM) và các giải pháp công nghệ số; xác định rõ đối tượng phải áp dụng, thời điểm bắt đầu, trách nhiệm nộp dữ liệu, việc sử dụng BIM trong quản lý nhà nước và yêu cầu bàn giao mô hình hoàn công cho đơn vị quản lý, vận hành. BIM vì vậy không phải một sản phẩm riêng của giai đoạn lập dự án hay thiết kế, mà là nguồn dữ liệu được tạo lập, cập nhật trong quá trình đầu tư xây dựng.

Công trình xây dựng mới từ cấp II trở lên phải áp dụng BIM

Theo Nghị định số 217/2026/NĐ-CP, công trình xây dựng mới từ cấp II trở lên phải áp dụng BIM kể từ giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật (điểm a khoản 1 Điều 8).

So với quy định trước đây, đối tượng áp dụng được xác định trực tiếp theo cấp công trình. Quy định không còn kèm điều kiện dự án phải có quy mô từ nhóm B trở lên. Điều này có nghĩa, khi dự án có công trình xây dựng mới từ cấp II trở lên, công trình đó thuộc diện áp dụng BIM, không phụ thuộc dự án được phân loại nhóm A, B hay C.

Một dự án có thể gồm nhiều công trình với cấp khác nhau. Nghĩa vụ áp dụng được xem xét đối với từng công trình. Công trình mới từ cấp II trở lên phải áp dụng; những công trình không thuộc đối tượng này được khuyến khích áp dụng khi chủ đầu tư thấy phù hợp với quy mô, tính chất và yêu cầu quản lý dự án (điểm b khoản 1 Điều 8).

Đáng chú ý, Nghị định số 217/2026/NĐ-CP cho phép người quyết định đầu tư quyết định không áp dụng BIM đối với một số trường hợp gồm dự án đầu tư xây dựng công trình theo tuyến, dự án xây dựng tại khu vực có tính chất đặc thù và dự án có yêu cầu bảo đảm bí mật nhà nước. Việc quyết định phải dựa trên tính khả thi và điều kiện thực tế của dự án (điểm a khoản 1 Điều 8). Đây không phải quy định miễn áp dụng chung cho mọi công trình theo tuyến. Người quyết định đầu tư phải xem xét từng dự án và quyết định việc không áp dụng. Nếu không có quyết định này, công trình xây dựng mới từ cấp II trở lên vẫn thực hiện theo nguyên tắc áp dụng BIM kể từ giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật.

Cụm từ “kể từ giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật” xác định thời điểm bắt đầu áp dụng, không giới hạn BIM trong riêng giai đoạn chuẩn bị dự án. Phạm vi và yêu cầu thông tin của mô hình được tiếp tục xác định tại từng giai đoạn, theo thỏa thuận trong hợp đồng giữa các bên liên quan (khoản 2 Điều 8).

Nhiệm vụ thiết kế phải xác định yêu cầu về mức độ và nhu cầu thông tin trong mô hình BIM của dự án (điểm g khoản 3 Điều 17). Khi chuyển sang thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công, mô hình phải được phát triển phù hợp với yêu cầu của bước thiết kế đó. Trong quá trình thi công, dữ liệu tiếp tục được sử dụng và cập nhật để phục vụ quản lý kỹ thuật, kiểm tra, nghiệm thu và lập mô hình hoàn công.

Cách quy định này nhằm tránh tình trạng lập mô hình để hoàn thành một yêu cầu tại bước thẩm định rồi ngừng sử dụng. Cơ quan soạn thảo xác định, BIM là một nội dung trong quá trình chuyển từ quản lý bằng hồ sơ riêng lẻ sang quản lý bằng dữ liệu điện tử có thể khai thác, chia sẻ và sử dụng lại.

Dữ liệu phải có định dạng mở và được quản lý trên CDE

Đối với công trình thuộc diện bắt buộc áp dụng BIM, ngoài hồ sơ trình thẩm định theo quy định, chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án phải nộp dữ liệu BIM cho cơ quan chuyên môn về xây dựng (khoản 3 Điều 8).

Dữ liệu được nộp theo định dạng chuẩn mở IFC hoặc định dạng mở khác phù hợp với đặc thù, tính chất của công trình. Cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu nộp thêm định dạng gốc để đối chiếu. Tệp gốc phải giữ nguyên các tham số, cấu trúc đối tượng và thuộc tính của mô hình (điểm a và điểm b khoản 3 Điều 8).

Yêu cầu sử dụng định dạng mở nhằm bảo đảm cơ quan quản lý và các bên tham gia có thể đọc, kiểm tra và khai thác dữ liệu mà không phụ thuộc hoàn toàn vào một phần mềm. Tuy nhiên, định dạng mở không thay cho tệp gốc. Khi cần kiểm tra sâu hơn về tham số hoặc cấu trúc mô hình, cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu chủ đầu tư cung cấp tệp gốc để đối chiếu.

Dữ liệu BIM nộp cho cơ quan chuyên môn về xây dựng phải thể hiện được: vị trí, hình dạng không gian ba chiều của công trình; kích thước chủ yếu của các bộ phận chính; phương án kết nối hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài công trình. Trường hợp yêu cầu quản lý ở mức cao hơn, nội dung dữ liệu thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng (điểm c khoản 3 Điều 8).

Nghị định số 217/2026/NĐ-CP không ấn định một mức độ chi tiết giống nhau cho mọi công trình và mọi giai đoạn. Phạm vi công việc, nội dung mô hình và yêu cầu thông tin phải được xác định trong hợp đồng giữa chủ đầu tư với các nhà thầu có liên quan tại từng giai đoạn (khoản 2 Điều 8).

Do đó, hợp đồng cần làm rõ: bên lập mô hình, bên kiểm tra, thời điểm cập nhật, định dạng bàn giao, mức độ thông tin, quyền khai thác và trách nhiệm khi dữ liệu sai hoặc không thống nhất. Nếu hợp đồng chỉ ghi chung là “áp dụng BIM” mà không xác định sản phẩm và trách nhiệm cụ thể, việc nghiệm thu, thanh toán và sử dụng dữ liệu ở bước sau sẽ khó thực hiện.

Đối với công trình cấp I trở lên thuộc dự án đầu tư công áp dụng BIM, chủ đầu tư phải thiết lập, quản lý và vận hành Môi trường dữ liệu chung (CDE). CDE được dùng để quản lý, lưu trữ, chia sẻ và kiểm soát thông tin của dự án. Mô hình đã được chủ đầu tư chấp thuận và phát hành trên CDE là cơ sở để các bên đối chiếu, kiểm tra và làm rõ nội dung kỹ thuật (khoản 4 Điều 8).

Đối với các cấp công trình khác, Nghị định số 217/2026/NĐ-CP khuyến khích chủ đầu tư thiết lập và sử dụng CDE. Việc khuyến khích này không làm thay đổi nghĩa vụ áp dụng BIM đối với công trình mới từ cấp II trở lên. Điểm khác nhau nằm ở yêu cầu bắt buộc phải thiết lập CDE: quy định này áp dụng đối với công trình cấp I trở lên thuộc dự án đầu tư công.

Dữ liệu BIM và thông tin trên CDE phải được quản lý theo quy định về an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu, lưu trữ và sở hữu trí tuệ. Quyền và trách nhiệm của các bên đối với dữ liệu BIM được xác định trong hợp đồng và theo pháp luật có liên quan (khoản 6 Điều 8).

Mô hình hoàn công phải được bàn giao để quản lý, vận hành

Nghị định số 217/2026/NĐ-CP cho phép cơ quan chuyên môn về xây dựng sử dụng dữ liệu BIM phục vụ thẩm định và kiểm tra công tác nghiệm thu. Các nội dung có thể khai thác gồm: vị trí, hình khối, kích thước chủ yếu; phương án kiến trúc, kết cấu chính; tổ chức không gian; hệ thống kỹ thuật; sự tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn; xung đột kỹ thuật và các chỉ tiêu chủ yếu của công trình (điểm c khoản 5 Điều 8).

Chủ đầu tư chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác và thống nhất của dữ liệu BIM nộp cho cơ quan chuyên môn về xây dựng. Việc nhà thầu tư vấn lập mô hình không chuyển trách nhiệm này khỏi chủ đầu tư trong quan hệ với cơ quan quản lý nhà nước (điểm d khoản 5 Điều 8).

Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành và UBND cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng lộ trình chuyển sang sử dụng BIM trong quản lý nhà nước, phù hợp với nhân lực và hạ tầng kỹ thuật. Khi cơ quan quản lý đã đủ điều kiện sử dụng hoàn toàn mô hình BIM, mô hình có thể thay thế hồ sơ thiết kế bằng giấy và có giá trị pháp lý tương đương. Chủ đầu tư không phải nộp lại bản vẽ giấy đối với những nội dung đã được thể hiện đầy đủ, chính xác trong mô hình (điểm a và điểm b khoản 5 Điều 8).

Việc sử dụng BIM không dừng ở thẩm định hoặc thi công. Sau khi hoàn thành công trình, chủ đầu tư phải cập nhật mô hình BIM hoàn công đã được chuẩn hóa vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng. Chủ đầu tư đồng thời phải bàn giao cho đơn vị quản lý, vận hành toàn bộ dữ liệu BIM phục vụ quản lý, vận hành và bảo trì công trình (điểm đ khoản 5 Điều 8).

Mô hình hoàn công phải phản ánh công trình thực tế sau thi công, gồm những thay đổi đã được chấp thuận trong quá trình xây dựng. Nếu dữ liệu bàn giao vẫn là mô hình thiết kế ban đầu, đơn vị vận hành sẽ không có thông tin chính xác về cấu kiện, thiết bị, hệ thống kỹ thuật và các phần việc đã thay đổi.

Quy định bàn giao toàn bộ dữ liệu BIM đặt trách nhiệm cho chủ đầu tư ngay từ khi chuẩn bị dự án. Yêu cầu dữ liệu phục vụ vận hành phải được xác định trong nhiệm vụ thiết kế, hồ sơ mời thầu và hợp đồng. Các nhà thầu thiết kế, thi công, cung cấp thiết bị phải có trách nhiệm cập nhật phần dữ liệu thuộc công việc của mình. Chủ đầu tư kiểm tra, chấp thuận và tổ chức bàn giao khi công trình hoàn thành.

Theo giải trình của cơ quan soạn thảo, quy định về BIM gắn với yêu cầu dữ liệu hóa hồ sơ và thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử. Dữ liệu được tạo lập trong quá trình đầu tư xây dựng có thể tiếp tục phục vụ thẩm định, kiểm tra nghiệm thu, quản lý nhà nước và vận hành công trình.

Như vậy, công trình thuộc diện áp dụng BIM phải thực hiện từ giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, tiếp tục qua các bước thiết kế và thi công. Khi công trình hoàn thành, mô hình được cập nhật theo hiện trạng, đưa vào cơ sở dữ liệu và bàn giao cho đơn vị vận hành. Đây là một quá trình liên tục, không phải yêu cầu lập mô hình tại một thời điểm riêng lẻ. (Hết)

▶ Bài 1: Chuyển từ tiền kiểm rộng sang tiền kiểm có trọng tâm

▶ Bài 2: Giảm thủ tục, tăng trách nhiệm trong quản lý hoạt động xây dựng

▶ Bài 3: Quản lý chi phí xây dựng sát hơn với thiết kế và thị trường

▶ Bài 4: Phân chia rõ rủi ro trong hợp đồng xây dựng

▶ Bài 5: Quản lý năng lực và hoạt động xây dựng bằng dữ liệu

►Bài 6: Dữ liệu BIM đi theo công trình đến giai đoạn vận hành

Bình luận
Nhà ở xã hội SUNRISE HOME Ngọc Hồi