Phân vùng cảnh quan trong phát triển hệ sinh thái tự nhiên và kiểm soát ngập lụt: Kinh nghiệm cho TP.HCM

Trên cơ sở kinh nghiệm từ Paris, Montreal và Singapore, bài viết đề xuất phương pháp Quy hoạch vùng cảnh quan (LAP) nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho điều chỉnh Quy hoạch chung TP.HCM. Giải pháp này giúp tích hợp bảo tồn hệ sinh thái ven sông với kiểm soát ngập lụt, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và ứng phó thiên tai.
Phân vùng cảnh quan trong phát triển hệ sinh thái tự nhiên và kiểm soát ngập lụt: Kinh nghiệm cho TP.HCM
Ảnh minh họa. Nguồn: TTXVN

1. Giới thiệu

1.1. Bối cảnh toàn cầu: Phát triển đô thị và yếu tố dẫn đến nguy cơ ngập

Trong những thập kỷ gần đây, quá trình đô thị hóa đã nổi lên cùng với sự phát triển kinh tế và dân số thế giới ngày càng tăng, với xu hướng ngày càng tập trung vào các khu vực đô thị. Số liệu thống kê cho thấy hầu hết các thành phố lớn trên thế giới đều có mức tăng dân số gấp 10 đến 20 lần trong giai đoạn 50 năm kể từ những năm 1960 [1].

Trong tương lai, các kết quả dự báo ước tính khoảng 68% dân số thế giới sẽ tập trung ở các khu vực đô thị vào năm 2050 [1]. Những thành phố này cần cải tạo và phát triển môi trường xây dựng trong đô thị để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các hoạt động kinh tế, xã hội, dẫn đến xu hướng mở rộng diện tích đô thị hóa diễn ra liên tục; và ngược lại diện tích đất cho hệ sinh thái tự nhiên ngày càng sụt giảm.

Một số số kết quả nghiên cứu dự báo, thế giới sẽ có hơn 5,87 triệu km2 đất được chuyển đổi thành khu vực đô thị, trong đó 20% trong số này (1,2 triệu km2) có xác suất cao ( >75%) góp phần mở rộng diện tích đô thị vào năm 2030 [2].

Xu hướng này dự kiến sẽ có tác động đáng kể đến diện tích đất đảm bảo sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên nằm trong hoặc xung quanh các khu vực đô thị, và đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng các yếu tố môi trường như nước mặt, không khí, nhiệt độ và độ ẩm.

Chiếm tỷ trọng lớn trong các diện tích này, các khu vực có khả năng hấp thụ nước tốt có xu hướng bị thu hẹp và thay thế bằng các khu vực phát triển đô thị mới với các bề mặt không thấm nước như mái nhà, mặt đường, sân gạch… để phục vụ các hoạt động của con người như nhà ở, thương mại và dịch vụ.

Số liệu từ các báo cáo ước tính rằng khoảng 1% đất trũng gần biển bị mất mỗi năm trong cuối thế kỷ 20 [3, 4].  Xu hướng này thực tế đã tăng tốc vào đầu thế kỷ, khi hơn 67% đất ngập nước ven biển trên thế giới đã bị mất [5, 6, 7, 8, 9].

Tình trạng càng trở nên nghiêm trọng ở các thành phố lớn, nơi quá trình đô thị hóa nhanh chóng thường diễn ra cùng với sự phát triển kinh tế, nhưng đi kèm với nguy cơ xảy ra thiên tai như lũ lụt. Các dự án cải tạo hoặc phát triển các khu đô thị thường có các tiêu chí và mục tiêu riêng, có thể không hoàn toàn kết thừa và triển khai các mục tiêu chiến lược liên quan đến các yếu tố như cảnh quan và thoát nước mặt.

Điều này đặc biệt rõ ràng ở các thành phố lớn hoặc rất lớn có quá trình đô thị hóa nhanh chóng và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế khó kiểm soát. Tình trạng này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của môi trường đô thị, trong đó hệ sinh thái tự nhiên đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì môi trường sống tốt và giúp cân bằng nước mặt, nhưng dễ dàng bị thay thế bởi các môi trường nhân tạo tập trung đáp ứng nhu cầu về kinh tế xã hội của con người, thay vì tuân thủ các nguyên tắc tự nhiên như dòng chảy hoặc lưu trữ nước.

Điều này đòi hỏi các nhà quy hoạch và quản lý cần có những giải pháp hiệu quả trong việc tổ chức quy hoạch và quản lý không gian cảnh quan tạo điều kiện phát triển cho các hệ sinh thái tự nhiên góp phần tạo sự cân bằng về tuần hoàn nước mặt cho toàn đô thị.

Khu đô thị Phú Mỹ Hưng. Ảnh: phumyhungcity.com.vn

1.2. TP.HCM: Quá trình đô thị hóa và nguy cơ ngập liên quan đến xu hướng sụt giảm khả năng trữ và thẩm thấu nước 

TP.HCM là một thành phố ven biển lớn (kéo dài khoảng 50 km từ trung tâm hiện tại) đến cửa sông và có dân số hơn 10 triệu người (trước khi sáp nhập). Tuy được xem làm một đầu tàu về kinh tế, thành phố đang phải đối mặt với nguy cơ từ các ảnh hưởng bởi hậu quả của biến đổi khí hậu có liên quan đến ngập lụt [4, 10], đặc biệt là mối quan hệ với quá trình đô thị hóa và mở rộng phần diện tích đô thị [11, 12, 13].

Báo cáo của Ủy ban nhân dân TP.HCM (2020) cho thấy thành phố đã có chiến lược và triển khai các dự án phát triển mảng xanh đô thị trong những năm gần đây, nhưng kết quả chưa đạt được như mong đợi, chỉ tăng nhẹ khoảng 107,59 ha từ năm 2012 đến năm 2019; trong khi đó, thành phố cần ít nhất 510 ha mảng xanh vào năm 2025 để phần nào đáp ứng các theo quy định của bộ tiêu chí xanh tại Việt Nam.

Trong quá trình phát triển, các khu đô thị mới như Phú Mỹ Hưng và Thủ Thiêm cùng với nhiều dự án phát triển đô thị khác đã được triển khai theo với các kế hoạch tổng thể đang được thiết lập. Tuy nhiên, các dự án này có thể được phát triển riêng lẻ, thiếu sự tuân thủ các mục tiêu của quy hoạch tổng thể phát triển, chẳng hạn như đất cây xanh và mặt nước, vốn được kỳ vọng sẽ góp phần hấp thụ nước, giảm thiểu rủi ro ngập lụt đô thị.

Ví dụ, việc tăng diện tích xây dựng và cao độ nền một cách thiếu kiểm soát nhằm tránh ngập lụt tại một số khu vực cục bộ có thể ảnh hưởng đến quy hoạch tổng thể thoát nước mặt của toàn khu vực đô thị.

Theo đó, các diện tích cho cảnh quan - sinh thái tự nhiên, vốn được coi là một thành phần không thể thiếu đang phải đối mặt với những thách thức về bảo tồn liên quan đến các động lực phát triển kinh tế đô thị.

Kết quả là, các khu vực cảnh quan tự nhiên vốn có trước đây đã dần bị thay thế bởi các khu đô thị mới; dù hiện đại và đáp ứng nhu cầu thực tiễn, nhưng cũng không mang đặc điểm bản địa của từng khu vực.

Do đó, bài viết này tổng hợp một số lý thuyết có liên quan đến đặc điểm phát triển về hệ sinh thái tự nhiên tại các khu vực đô thị của TP.HCM trước các hệ quả của quá trình đô thị hóa và biến đổi khí hậu có liên quan đến diện tích mảng xanh và mặt nước.

Theo đó, bằng cách xem xét các bài học kinh nghiệm từ các thành phố lớn như Paris (Pháp) và Montreal (Canada) và Singapore, bài viết giới thiệu phương pháp tiếp cận quy hoạch vùng cảnh quan (LAP) cùng các tiêu chí cơ bản với kỳ vọng sẽ trở thành cơ sở khoa học quan trọng trong quá trình điều chỉnh quy hoạch chung TP.HCM sau khi sáp nhập.

Điều này có thể giúp tìm ra các giải pháp tích hợp các mục tiêu bảo tồn tính đặc thù của các hệ sinh thái trong khu vực đô thị, đồng thời phát huy vai trò của các hệ sinh thái của một thành phố ven sông góp phần giảm thiểu nguy cơ ngập lụt trong tương lai.

2. Hệ sinh thái tại các khu vực đô thị: tự nhiên và nhân tạo

Khái niệm hệ sinh thái đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, và được cho là bắt nguồn từ các tác phẩm của các triết gia Hy Lạp cổ đại như Aristotle và Theophrastus, những người quan tâm đến việc nghiên cứu thực vật và động vật.

Trong thời kỳ hiện đại, thuật ngữ "sinh thái học" lần đầu tiên được Haeckel đặt ra vào năm 1869, khi ông nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường của chúng. Thuật ngữ "hệ sinh thái" định nghĩa nó là "toàn bộ hệ thống, bao gồm không chỉ phức hợp sinh vật mà còn là toàn bộ phức hợp các yếu tố vật lý tạo nên cái mà chúng ta gọi là môi trường"; và quan điểm này đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự trao đổi vật chất giữa sinh vật và môi trường của chúng trong một hệ thống ổn định.

Trong sinh thái học, hệ sinh thái tự nhiên được coi là nơi mà sinh vật và môi trường của chúng có mối quan hệ chặt chẽ [14]. Đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và chức năng của chúng.

Các hệ sinh thái như vậy có tính năng động nhưng dễ bị xáo trộn do bị các yếu tố tác động trong quá trình phát triển [15]; theo đó khả năng phục hồi nhanh được Holling C. S đề cập như cách một hệ sinh thái “tiếp nhận” các xáo trộn và tự tổ chức lại cấu trúc trong khi vẫn duy trì sự tồn tại và các chức năng thiết yếu [16]. Tất cả các thành phần trong hệ sinh thái tự nhiên tương tác với nhau như một thể thống nhất thông qua các quá trình vật lý, hóa học và sinh học. Các đặc điểm chính của hệ sinh thái tự nhiên bao gồm [17, 18]:

- Hệ thống động và liên kết mở: Hệ sinh thái tự nhiên không phải là hệ thống khép kín về mặt vật lý, cũng không duy trì trạng thái cân bằng tĩnh. Thay vào đó, chúng liên tục trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường xung quanh và các hệ sinh thái khác;

- Tập trung vào các chi tiết cấu trúc và sự đa dạng của các quá trình diễn ra trong ranh giới hệ thống: Các nghiên cứu hiện đại về hệ sinh thái tập trung vào các thành phần cấu trúc và các quá trình phức tạp diễn ra bên trong;

- Xem xét vai trò của từng cá nhân và sự tương tác trong cộng đồng: Mỗi cá nhân đều đóng góp vào chức năng chung của hệ sinh thái;

- Biến thiên quy mô: Hệ sinh thái tự nhiên có thể rất đa dạng về kích thước, từ những vùng nước nhỏ đến những khu rừng nhiệt đới và đại dương rộng lớn. Bất kể kích thước nào, chúng đều được coi là tự nhiên nếu đáp ứng một số tiêu chí nhất định;

- Nhận biết dòng chảy giữa các vùng: Hệ sinh thái tự nhiên thường bao gồm nhiều vùng khác nhau, trong đó sự di chuyển của vật chất, năng lượng và sinh vật giữa các vùng là một đặc điểm quan trọng;

- Hiểu được cơ sở của các quá trình hiện tại trong các sự kiện lịch sử: Sự phát triển lịch sử của một hệ sinh thái có ảnh hưởng sâu sắc đến cấu trúc và chức năng của nó ở thời điểm hiện tại.

Cùng với sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên, sự xuất hiện các hoạt động của con người và môi trường nhân tạo để đáp ứng nhu cầu hoạt động liên quan đã dần thay thế các hệ sinh thái tự nhiên và hình thành các hệ sinh thái nhân tạo, hay hệ sinh thái do con người tạo ra, có một số đặc điểm khác với hệ sinh thái tự nhiên, như sau [19]:

- Nguồn gốc: Hệ sinh thái tự nhiên phát triển theo thời gian mà không có sự can thiệp trực tiếp của con người; ngược lại, hệ sinh thái nhân tạo được con người thiết kế và xây dựng cho các mục đích cụ thể.

- Thành phần: Hệ sinh thái tự nhiên thường có sự đa dạng cao về các loài bản địa (thành phần sinh học) thích nghi với môi trường địa phương, với các thành phần phi sinh học bao gồm các yếu tố tự nhiên như đất, nước, ánh sáng mặt trời và không khí. Trong khi đó, hệ sinh thái nhân tạo thường có sự đa dạng loài thấp hơn, với các loài được lựa chọn dựa trên giá trị sử dụng hoặc thẩm mỹ; các thành phần phi sinh học có thể được kiểm soát hoặc bổ sung nhân tạo (ví dụ: phân bón, nhiệt độ được kiểm soát trong bể cá).

- Tự duy trì: Hệ sinh thái tự nhiên sở hữu các cơ chế tự điều chỉnh tự nhiên (ví dụ, mối quan hệ giữa động vật ăn thịt và con mồi, chu trình dinh dưỡng) cho phép chúng duy trì một mức độ ổn định nhất định mà không cần sự can thiệp liên tục từ bên ngoài; ngược lại, hệ sinh thái nhân tạo thường đòi hỏi sự can thiệp liên tục của con người để tồn tại, chẳng hạn như cung cấp thức ăn và nước uống, xử lý chất thải và kiểm soát quần thể;

- Tác động của con người: Các hệ sinh thái tự nhiên hoạt động với sự ảnh hưởng trực tiếp của con người đến các quá trình của chúng, trong khi các hệ sinh thái nhân tạo được con người chủ động tạo ra và quản lý; do đó, các hoạt động của con người là không thể thiếu đối với sự tồn tại của chúng.

Nhìn chung, hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo có những khác biệt cơ bản về nguồn gốc, khả năng tự duy trì, đa dạng sinh học và vai trò của con người. Trong khi hệ sinh thái tự nhiên phát triển độc lập và duy trì sự cân bằng thông qua các quá trình phức tạp, hệ sinh thái nhân tạo phụ thuộc vào sự can thiệp liên tục của con người để tồn tại và phục vụ các mục đích cụ thể.

Một điểm khác biệt quan trọng liên quan đến khả năng hấp thụ nước: hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là các hệ sinh thái như rừng và đồng cỏ, có khả năng thấm và giữ nước tốt hơn nhờ thảm thực vật phong phú và cấu trúc đất tự nhiên.

Ngược lại, hệ sinh thái nhân tạo, đặc biệt là các khu vực đô thị có tỷ lệ bề mặt không thấm nước như đường xá và nhà cửa, thường có khả năng hấp thụ nước kém, dẫn đến dòng chảy bề mặt lớn hơn. Sự nén chặt đất trong quá trình xây dựng ở các hệ sinh thái nhân tạo cũng làm giảm khả năng thấm của đất.

3. LAP (Landscape area planning) với giá trị và lợi ích khi áp dụng vào quá trình bảo tồn hệ sinh thái và quản lý tài nguyên nước: Một số bài học kinh nghiệm từ một số thành phố Paris (Pháp) và Montreal (Canada)

3.1. Khái niệm và tiêu chí quy hoạch vùng cảnh quan (LAP)

Khái niệm vùng cảnh quan (Landscape Area - LA) rất quan trọng trong lĩnh vực quy hoạch, quy hoạch cảnh quan và quản lý môi trường. Nó nhằm mục đích xác định và phân loại các khu vực dựa trên đặc điểm cảnh quan tự nhiên và nhân tạo của chúng.

LA là một khu vực được phân biệt bởi các đặc điểm tự nhiên hoặc nhân tạo độc đáo, tạo nên một hình ảnh tổng thể hài hòa với các giá trị riêng biệt. Nó được xác định về mặt địa lý, bao gồm một hoặc nhiều đơn vị cảnh quan lớn/nhỏ [20]; được kết nối với nhau bởi các yếu tố tự nhiên và con người, được gọi là các thực thể cảnh quan [21]

Khu vực cảnh quan (LA) tích hợp các khái niệm về đơn vị cảnh quan và thực thể cảnh quan. Nó không chỉ giúp nhận diện các đơn vị riêng lẻ (các yếu tố cơ bản và sự kết hợp của chúng tạo nên một tổng thể), mà còn giúp nhận diện các thực thể - những đơn vị có thể được nhận diện thông qua ranh giới, đặc điểm trung tâm, tính đồng nhất, và các đặc điểm cảnh quan và lịch sử riêng biệt, thường được phản ánh trong tên gọi.

Quy hoạch vùng cảnh quan (Landscape Area Planning - LAP) là một phương pháp tiếp cận tổng hợp trong quản lý và phát triển không gian, tập trung vào việc bảo tồn và nâng cao chất lượng của môi trường cảnh quan, cũng như các giá trị sinh thái và văn hóa của một khu vực.

Theo Hội đồng Châu Âu, cảnh quan được định nghĩa là "một khu vực được con người cảm nhận, có đặc điểm là kết quả của tác động của các yếu tố tự nhiên và con người cùng với sự tương tác giữa chúng" (ELC) [22]. Theo nghĩa này, cảnh quan không chỉ đơn thuần là một phần của môi trường tự nhiên, mà là một hệ thống phức hợp phản ánh lịch sử, văn hóa và các mô hình phát triển đô thị.

Tiêu chí chính của LAP bao gồm:

• Bảo tồn đa dạng sinh học: Đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các loài và hệ sinh thái tự nhiên.

• Duy trì chức năng sinh thái: Bảo vệ các quá trình sinh thái thiết yếu như chu trình nước, chu trình dinh dưỡng và sự phát tán của các loài

• Tôn trọng các giá trị văn hóa và lịch sử: Bảo tồn di sản văn hóa và lịch sử trong khi vẫn duy trì mối quan hệ giữa con người và cảnh quan

• Phát triển bền vững: Đảm bảo các hoạt động kinh tế và xã hội không gây hại cho môi trường và có thể duy trì lâu dài.

Nhìn chung, LAP được nhiều chuyên gia đánh giá cao về mặt quy hoạch do có thể mang lại các giá trị với những ưu điểm nổi bật như sau:

Cấu trúc phân chia quản lý theo thứ bậc: 

i) phân chia theo đơn vị để quản lý (đơn vị nhỏ, đơn vị lớn hơn và đơn vị khu vực/quận); 

ii) phân chia theo chức năng: đất ngập nước, rừng, nông nghiệp, khu vực đô thị hóa, sử dụng hỗn hợp hoặc không gian mở đô thị, bề mặt công nghiệp và nhân tạo;

Khả năng liên kết các đơn vị cảnh quan về mặt không gian và quản lý;

Khả năng kiểm soát sự phát triển để điều chỉnh bổ sung với một số chỉ số đánh giá định lượng.

3.2. Vai trò của LAP trong bảo tồn hệ sinh thái và đất tự nhiên

LAP đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn hệ sinh thái và duy trì tính toàn vẹn của đất đai tự nhiên. Một phương pháp tiếp cận khoa học và có hệ thống đối với LAP không chỉ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường đô thị và nông thôn. Các đặc điểm chính của nó bao gồm:

i) Bảo vệ và phục hồi đa dạng sinh học: LAP thiết lập các cơ chế nhằm bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái tự nhiên, duy trì các hành lang sinh thái, và đảm bảo kết nối giữa các khu vực bảo tồn. Các khu vực cảnh quan này nếu được quy hoạch và quản lý tốt giúp sẽ giảm tình trạng phân mảnh sinh cảnh, tăng cường khả năng di cư và sinh sản của các loài, cũng như duy trì đa dạng sinh học [23]. Cách tiếp cận này cũng góp phần giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu lên các hệ sinh thái tự nhiên.

ii) Duy trì và tối ưu hóa các dịch vụ hệ sinh thái. Hệ sinh thái tự nhiên cung cấp các dịch vụ thiết yếu [24], bao gồm:

● Dịch vụ điều tiết: Điều hòa khí hậu, quản lý nước mưa, và ngăn ngừa xói mòn đất.

● Dịch vụ cung ứng: Cung cấp nước sạch, thực phẩm, và vật liệu sinh học.

● Dịch vụ hỗ trợ: Duy trì chu trình dinh dưỡng và hệ sinh thái đất.

● Dịch vụ văn hóa: Tạo ra không gian xanh phục vụ vui chơi, thư giãn, và giáo dục môi trường.

Thông qua LAP, các dịch vụ này có thể được bảo tồn và tối ưu hóa, góp phần cải thiện chất lượng sống của con người và cân bằng sinh thái.

iii) Cải thiện chất lượng môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững. LAD có thể giúp quản lý chặt chẽ hơn môi trường sinh thái nhằm nâng cao chất lượng môi trường, giảm ô nhiễm, và tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu. Các thành phố triển khai hiệu quả LAP có thể giảm thiểu hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, tăng khả năng hấp thụ carbon, và tạo ra các không gian xanh chức năng cho cộng đồng [25].

3.3. Vai trò của LAP trong quá trình quản lý tài nguyên nước đô thị

LAP đóng vai trò thiết yếu trong quản lý tài nguyên nước đô thị, giúp tăng khả năng thấm và lưu trữ nước, đồng thời giảm thiểu các tác động tiêu cực của quá trình đô thị hóa lên chu trình thủy văn. Quy hoạch hiệu quả không chỉ bảo vệ nguồn nước mà còn tăng cường khả năng thích ứng của đô thị trước biến đổi khí hậu và các hiện tượng cực đoan như ngập lụt.

i. Tăng cường khả năng thấm nước.

Tỷ lệ bề mặt thấm nước ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng kiểm soát nước mưa và rủi ro ngập lụt đô thị. Việc giảm diện tích bề mặt thấm nước từ 50% xuống 10% có thể làm lượng nước chảy tràn bề mặt tăng gấp năm lần [26]. Do đó, việc bảo tồn và mở rộng các không gian xanh thấm nước như công viên và khu cảnh quan giúp:

● Hạn chế dòng chảy bề mặt và giảm áp lực lên hệ thống thoát nước đô thị

● Giảm xói mòn đất và ô nhiễm nguồn nước do dòng chảy không kiểm soát

● Tăng cường bổ cập nước ngầm.

ii. Bảo vệ và bổ cập nguồn nước ngầm.

LAP tích hợp các giải pháp bền vững như bể lọc sinh học (biofiltration), ao sinh thái, và mặt lát thấm nước để tăng cường khả năng bổ cập nước ngầm. Các khu vực đô thị có tỷ lệ bề mặt thấm nước cao (>30%) có thể đạt tỷ lệ bổ cập nước ngầm từ 10-20% lượng mưa hằng năm, trong khi các khu vực xây dựng dày đặc có tỷ lệ này thấp hơn 5% [27].

iii. Điều tiết vi khí hậu và giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị.

Không gian xanh và mặt nước trong đô thị giúp làm mát khu vực, cải thiện chất lượng môi trường. Những khu vực có độ che phủ cây cao có thể giảm nhiệt độ trung bình từ 2°C đến 4°C so với khu vực bị bê tông hóa hoàn toàn [25]. Việc tích hợp cảnh quan với các hồ điều tiết và dòng chảy tự nhiên không chỉ hỗ trợ quản lý nước mà còn giúp giảm nhiệt độ đô thị và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

Tóm lại, việc áp dụng và triển khai LAP không chỉ là một công cụ bảo tồn hệ sinh thái mà còn là chiến lược then chốt trong phát triển bền vững, nhằm cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Mối liên hệ giữa LAP và khả năng thấm - lưu trữ nước trong đô thị là yếu tố cốt lõi trong quy hoạch đô thị bền vững. Việc mở rộng các bề mặt thấm nước không chỉ giúp kiểm soát ngập lụt và bảo vệ tài nguyên nước, mà còn tác động tích cực đến vi khí hậu và chất lượng môi trường tổng thể. Do đó, các thành phố cần tích hợp chiến lược LAP vào quy hoạch đô thị tổng thể để đảm bảo hài hòa giữa phát triển đô thị và bảo tồn tài nguyên nước.

3.5. Giá trị thực tiễn của LAP qua một số minh chứng định lượng

Kinh nghiệm từ Île-de-France (Pháp), Singapore và Montréal (Canada) cho thấy việc triển khai LAP không chỉ định hướng cho bảo tồn hệ sinh thái mà còn mang lại những cải thiện đo lường được cho môi trường đô thị. Cụ thể:

● Bảo tồn và phục hồi không gian xanh:

○ Tại Île-de-France, LAP giúp duy trì 24% đất tự nhiên và nông nghiệp, đồng thời tăng 15% hành lang xanh (IAU Île-de-France, 2010). Dự án “Ceinture Verte” chuyển đổi 1.500 ha đất công nghiệp thành công viên - tương đương 5% diện tích đô thị

○ Montréal đặt mục tiêu bảo vệ 30% vùng đất ngập nước và không gian xanh vào năm 2030, và đến năm 2020 đã đạt 17%. Dự án phục hồi sông Saint-Pierre đã tái tạo 200 ha đất ngập nước, giúp tăng 20% đa dạng sinh học [30].

● Tăng cường khả năng thấm nước:

○ Ở Île-de-France, tỷ lệ bổ cập nước ngầm tăng từ 5% lên 12% lượng mưa nhờ mở rộng bề mặt thấm nước [3].

○ Singapore (với 47% diện tích xanh) đã giảm 50% dòng chảy bề mặt nhờ hệ thống ABC Waters, đồng thời hạ nhiệt độ đô thị từ 2-4°C [29].

● Giảm tác động của quá trình đô thị hóa: Montréal đã giảm 8% diện tích bề mặt không thấm nước trong giai đoạn 2012-2022 nhờ quy định mới về thấm nước [31].

Do đó, LAP đã chứng minh là một công cụ hiệu quả trong việc cân bằng phát triển đô thị với bảo tồn thiên nhiên, với tiềm năng phục hồi 10-20% hệ sinh thái đã mất và tăng khả năng thấm nước thêm 5-12%. Để đạt được những kết quả tương tự, các thành phố cần lưu ý:

● Tích hợp LAP vào quy hoạch tổng thể với các mục tiêu rõ ràng (ví dụ: 20-30% diện tích cho không gian xanh);

● Áp dụng công nghệ sinh thái (như mái xanh, mặt lát thấm nước) tương tự Singapore;

● Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong giám sát và thực thi.

Dữ liệu trên cho thấy vai trò của LAP trong việc đảo ngược xu hướng suy thoái cảnh quan và định hình phát triển đô thị bền vững.

Minh họa các sản phẩm đầu ra - bản đồ từ việc ứng dụng LAP

a. Bản đồ các đơn vị vùng (Regional Units)

b. Bản đồ địa hình và hình thái sử dụng phổ biến đạo của các đơn vị lớn (Relief and Dominant Land Use for Major Units)

c. Bản đồ sử dụng đất của các đơn vị nhỏ (Dominant Land Use for Small Units)

d. Bản đồ địa hình chủ đạo của các đơn vị nhỏ (Dominant Relief for Small Units)

Nguồn: Unités Paysagères de la région d'Ile de France - Méthodologie, notice d'utilisation de la base de données et d'Atlas - IUA [28]

5. Kết luận và khuyến nghị

Theo xu hướng toàn cầu hiện nay, quá trình đô thị hóa và tập trung dân cư vẫn tiếp tục diễn ra tại nhiều thành phố lớn đã góp phần vào sự sụt giảm về diện tích các mảng xanh và mặt nước là không gian cần thiết cho các hệ sinh thái tự nhiên tại các khu vực đô thị.

Điều này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường cảnh quan mà còn làm giảm khả năng hấp thụ nước, gây ra mất cân bằng nước mặt dẫn đến nguy cơ ngập lụt cao khi nhiều nhiều yếu tố tác động đồng thời (triều cường, mưa lớn và xã lũ…) dẫn đến nhiều thành phố ngày càng dễ bị tổn thương.

Thực tiễn cho thấy, mục tiêu bảo tồn và phát triển các hệ sinh thái tự nhiên thường gặp phải những thách thức và trở ngại trước các mục tiêu kinh tế liên quan đến nhu cầu phát triển môi trường xây dựng cho các hoạt động đô thị, chẳng hạn như các tòa nhà dân cư và thương mại, thông qua các dự án bất động sản.

Thực trạng này đã làm cho các thành phố dần mất đi các hệ sinh thái tự nhiên, dẫn đến sự thiếu kết nối trong toàn bộ hệ thống các khu vực cảnh quan mang tính đặc thù theo quy luật tự nhiên, và bị thay thế bởi các môi trường sinh thái nhân tạo mang tính cục bộ, thiếu tính kết nối và thiếu sự tôn trọng đối với các yếu tố tự nhiên sẵn có, chẳng hạn như địa hình, dòng chảy, hoặc các loài sinh vật phù hợp với thời tiết, khí hậu và thổ những địa phương.

Các bài học kinh nghiệm từ một số thành phố đã được trình bày bài viết này (Paris tại Pháp và Montreal tại Canada và Singapore), quy hoạch vùng cảnh quan - LAP đã cho thấy những giá trị đóng góp, mang lại hiệu quả trong công tác lập và quản lý quy hoạch góp phần phần kiểm soát và duy trì sự tồn tại, phát triển của các hệ sinh thái tự nhiên nhờ vào một số đặc điểm nổi bật như: 

i) Cấu trúc phân chia quản lý theo thứ bậc; 

ii) Khả năng liên kết các đơn vị cảnh quan về mặt không gian và quản lý; 

iii) Khả năng kiểm soát sự phát triển để điều chỉnh bổ sung với một số chỉ số đánh giá định lượng (chẳng hạn khôi phục 10-20% hệ sinh thái đã mất và tăng khả năng thấm nước từ 5-12%).

Từ những ưu điểm trên, LAP có thể được tham khảo để áp dụng cho TP.HCM nhằm duy trì các diện tích cho phát triển hệ sinh thái tự nhiên. Những mục tiêu này có thể khả thi nếu được lồng ghép vào các đồ án Quy hoạch chung cho TP.HCM sau khi sáp nhập, đặc biệt là đối với các khu vực cảnh quan ven sông Sài Gòn.

Đây được xem là động lực để chính quyền địa phương có thể cân bằng áp lực lợi ích kinh tế, giúp môi trường đô thị phát triển ngày càng bền vững. Tuy nhiên, cách tiếp cận này cần được triển khai cụ thể theo từng khía cạnh, với các chỉ số định lượng rõ ràng, áp dụng riêng cho TP.HCM, làm tiền đề cho các nghiên cứu trong thời gian tới.

* Tiêu đề do Tòa soạn đặt - Mời xem file PDF tại đây

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. United Nations - UN. Global Assessment Report on Disaster Risk Reduction (2013).
[2]. K. C. Seto, B. Guneralp, and L. R. Hutyra. Global Forecasts of Urban Expansion to 2030 and Direct Impacts on Biodiversity and Carbon Pools. PNAS, 109 (2012) 16083-16088.
[3]. R. J. Nicholls. Coastal Flooding and Wetland Loss in the 21st Century: Changes Under the SRES Climate and Socio-economic Scenarios, Global Environmental Change, 14 (1), (2004), 69-86.
[4]. F. M. J. Hoozemans, M. J. F. Stive and L. Bijlsma. A Global Vulnerability Assessment: Vulnerability of Coastal Areas to Sea-Level Rise, Coastal Zone '93, American Society of Civil Engineers (1993). 
[5]. E. B. Barbier, S. D. Hacker, C. Kennedy, E. W. Koch, A. C. Stier, and B. R. Silliman. The Value of Estuarine and Coastal Ecosystem Services. Ecol. Monogr., 81 (2011) 169-193.
[6]. N. C. Davidson. How Much Wetland Has the World Lost? Long-term and recent trends in the global wetland area. Mar. Freshw. Res., 65, (2014), 934-941.
[7]. X. Li, R. Bellerby, C. Craft, and S. E. Widney. Coastal Wetland Loss, Consequences, and Challenges for Restoration. Anthr. Coasts. 1 (2018), 1-15.
[8]. Q. Y. Lin, S. Yu. Losses of Natural Coastal Wetlands by Land Conversion and Ecological Degradation in the Urbanising Chinese Coast. Scientific Reports, 8, (2018).
[9]. V. Novoa, O. Rojas, R. Ahumada-Rudolph, K. Sáez, P. Fierro, C. Rojas. Coastal Wetlands: Ecosystems Affected by Urbanization? Water Quality and Contamination, 12 (3) (2020). https://doi.org/10.3390/w12030698. 
[10]. R. J. Nicholls. A Global Ranking of Port Cities with High Exposure to Climate Extremes. Climatic Change 104 (2011), 89-111. 
[11]. H. Storch and N. K. Downes. A Scenario-based Approach to Assess Ho Chi Minh City’s Urban Development Strategies against the Impact of Climate Change. Cities, 28 (2011), 517-526.
[12]. H. L. Phi. Urban Flood in Ho Chi Minh City: Causes and Management Strategy (translated from Vietnamese). Vietnamese Journal of Construction Planning, 63 (2013), 26-29, Hanoi.
[13]. P. N. Duy, L. Chapman, M. Tight, L. V. Thuong, and P. N. Linh. Increasing Vulnerability to Floods in New Development Areas: Evidence from Ho Chi Minh City. International Journal of Climate Change Strategies and Management, 10 (2017). DOI: 10.1108/IJCCSM-12-2016-0169.
[14]. Tansley A.G. The Use and Abuse of Vegetational Concepts and Terms. Ecology, 16 (1935) 284-307. Progress in Physical Geography Earth and Environment 31 (5): 517-522. DOI:10.1177/0309133307083297.
[15]. F. S. Chapin, E. S. Zavaleta, V. T. Eviner, R. L. Naylor, P. M. Vitousek, H. L. Reynolds, and S. Díaz. Consequences of Changing Biodiversity. Nature, 405 (2000), 234-242.
[16]. C. S. Holling, Resilience and Stability of Ecological Systems. Annual review of Ecology and Systematic, 4 (1973) 1-23. DOI: 10.1146/annurev.es.04.110173.000245.
[17]. K. S. Zimmerer. Human Geography and the New Ecology: The Prospect and Promise of Integration. Annals of the Association of American Geographers. 84 (1994), 108-125. DOI: https://doi.org/10.1111/j.1467-8306.1994.tb01731.x
[18]. C. G. Jones and J.H. Lawton eds. Linking Species and Ecosystems. New York: Chapman & Hall (1995).
[19]. S. T. A. Pickett, M. L. Cadenasso, J. M. Grove, C. H. Nilon, R. V. Pouyat, W. C. Zipperer and R. Costanza. Urban Ecological Systems: Linking Terrestrial Ecological, Physical, and Socioeconomic Components of Metropolitan Areas. Annu. Rev. Ecol. Syst., 32 (2001), 127-57.
[20]. D. E. Bowler, L. M, Buyung-Ali, T. M. Knight, and A. S. Pullin. Urban greening to cool towns and cities: A systematic review of the empirical evidence. Landscape and Urban Planning, 97 (2010), 147-155.
[21]. Y. Luginbühl, J. Bontron, and Z. Cros. Méthode pour des Atlas de paysages - Identification et qualification. STRATES-CNRS, SEGESA. Commande de la Direction de l’architecture et de l’urbanisme, (1994), 80.
[22]. Conseil de l’Europe. European Landscape Convention - Convention Européenne du Paysage, (2000).
[23]. R. T. Forman. Land Mosaics: The Ecology of Landscapes and Regions. Cambridge University Press, (1995).
[24]. Millennium Ecosystem Assessment (MEA). Ecosystems and Human Well-being: Synthesis. Island Press, (2005).
[25]. J. Wu. Landscape sustainability science: Ecosystem services and human well-being in changing landscapes. Landscape Ecology, 28 (2013), 999-1023.
[26]. B. K. Ferguson. Introduction to Stormwater: Concept, Purpose, Design. Wiley (1998).
[27]. D. N. Lerner. Identifying and Quantifying Urban Recharge: A Review. Hydrogeology Journal, vol. 10 (2002), 143-152.
[28]. Institut d'Aménagement et d'Urbanisme de l’Île-de-France. Unités paysagères de la région d’Île-de-France: Méthodologie, notice d’utilisation de la base de données et atlas. (2010).
[29]. N. H. Wong and C. Yu. Study of Green Areas and Urban Heat Island Effect in Singapore. Building and Environment, 40 (2005), 681-690.
[30]. C. Villeneuve, J. Dupras, and P. André. The Role of Ecosystem Services in Urban Planning: A Case Study of Montréal, Canada. Ecosystem Services, 1 (2012), 77-87.
[31]. Communauté Métropolitaine de Montréal - CMM. Plan Métropolitain d'Aménagement et de Développement (PMAD). Montréal. (2012).

Bình luận
Công ty Cổ phần Nước sạch Bắc Giang Chi nhánh vận tải đường sắt Vinh Bảo trì đường bộ Gia Lai Bảo trì đường bộ Quảng Trị Công ty Xe đạp Thống Nhất Công ty Cổ phần Tư vấn giao thông Hà Nội