Bảo vệ di sản đô thị trước tác động biến đổi khí hậu Bảo vệ di sản đô thị trước tác động biến đổi khí hậu

Bảo vệ di sản đô thị trước tác động biến đổi khí hậu

Hoàng thành Thăng Long, thành nhà Hồ, quần thể kiến trúc cố đô Huế, đô thị cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn… cùng nhiều di sản đô thị cấp quốc gia phân bố trên khắp đất nước [3]. Tuy nhiên, quỹ di sản giàu có này - vốn rất dễ bị tổn thương trước những tác động của các yếu tố tự nhiên và xã hội - đang phải đối mặt với những rủi ro ngày càng tăng đến từ quá trình đô thị hóa, chuyển đổi kinh tế - xã hội nhanh và mạnh mẽ của khu vực, đặc biệt là những tác động to lớn và lâu dài từ biến đổi khí hậu (BĐKH).

Trong bối cảnh trên, một số câu hỏi được đặt ra nhằm tìm ra các giải pháp thực tiễn cho việc bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản đô thị, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững: BĐKH đang tác động như thế nào đến di sản đô thị tại Việt Nam? Những chính sách, chiến lược, giải pháp nào để hạn chế/ngăn chặn tác động của BĐKH đến di sản đô thị hiện nay? Cần phải làm gì để tăng cường năng lực chống chịu của đô thị trước tác động BĐKH, giúp bảo vệ di sản đô thị?... Việc tăng cường nhận thức, sự tham gia của cộng đồng trong ứng phó/thích ứng với BĐKH, sử dụng các giải pháp thuận thiên, các tri thức bản địa trong việc bảo tồn di sản dưới tác động của BĐKH là những vấn đề cấp thiết cần được xem xét trong nghiên cứu này.

Qua rà soát hệ thống đô thị Việt Nam so với kịch bản BĐKH năm 2020 và nước biển dâng 1 m, nhận thấy tác động của BĐKH như sau: Có 40 tỉnh có nguy cơ ngập thuộc các vùng ĐBSCL, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ với khoảng 135 đô thị có nguy cơ ngập cao, trong đó có 46 đô thị lớn, trung bình. Ước tính, sẽ có 10 - 12 % dân số Việt Nam bị ảnh hưởng bởi BĐKH nếu các đô thị ven biển không ứng phó kịp thời với BĐKH. Những hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai gần đây đã xảy ra thường xuyên hơn tại các đô thị trong vùng, ảnh hưởng tới các di sản đô thị [10].

Các tác động vật lý trực tiếp tới công trình và cấu trúc công trình di sản

Diễn biến bất thường của thời tiết, tình trạng khí hậu nóng dần kéo theo mực nước biển dâng đang tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời sống và cả di sản văn hóa, di tích lịch sử cũng bị ảnh hưởng ngày càng rõ nét và nghiêm trọng. BĐKH gây nên ngập lụt ở khu phố cổ Hội An và đang hủy hoại các kiến trúc xây dựng ở khắp nơi trên đất nước: "cầu Nam, chùa Bắc, đình Đoài” …

Các di tích lịch sử, di sản văn hoá vật thể có sự gắn kết chặt chẽ với môi trường đất. Sự gần gũi với mặt đất làm tăng sự thấm và dẫn nước lên kết cấu công trình. Đất ẩm cũng góp phần gia tăng sự thẩm thấu và tích tụ muối trong khi các vật liệu xây dựng trong lịch sử mủn nhanh hơn vật liệu xây dựng hiện đại, bất kỳ sự tăng ẩm ướt nào của đất cũng có thể sẽ gây ra sự chuyển hóa muối mạnh hơn, các tinh thể muối sẽ làm hư hại dần các vật liệu trang trí bề mặt. Các di tích trở nên xốp hơn do phải hứng chịu nhiều nước chảy từ mặt đất vào trong các cấu trúc của chúng và bị phá hoại qua quá trình bốc hơi bề mặt. Cấu trúc của tường và sàn bị phá hoại trực tiếp do quá trình này. Vật liệu gỗ và các vật liệu hữu cơ khác cũng bị phá hoại do sự gia tăng hoạt động của các loại côn trùng trong điều kiện ẩm ướt. Gỗ và các vật liệu tự nhiên là nguyên nhân thu hút các xâm nhập sinh học, gia tăng mối mọt làm hư hại kết cấu dưới thời tiết nóng ẩm. Điều này lý giải sự dễ bị tổn thương của kết cấu công trình gỗ khi có thêm tác động của các hiện tượng khác của BĐKH như lũ lụt, gió bão, hay lốc xoáy. Trong đó, lũ lụt tác động rất lớn đến các công trình cổ vốn được xây dựng thấp tầng và với vật liệu không chịu được ngập nước dài ngày. Sau lũ lụt, các công trình tiếp tục bị ảnh hưởng do sự phát triển của các vi sinh vật gây hại như nấm mốc. Dòng nước lũ chảy mạnh có thể làm xói mòn và sụp đổ các công trình. Sự gia tăng của gió và bão có thể dẫn đến tổn thương kết cấu công trình. Vấn đề sa mạc hoá, thời tiết nhiễm mặn và xói mòn cũng là những tác nhân đe dọa di sản đô thị. (hình 1)

Tác động của BĐKH tới cấu trúc xã hội và môi trường sống chứa đựng di sản đô thị

Rất nhiều di sản đô thị tại Việt Nam đang là nơi sinh sống của người dân và phụ thuộc vào các cộng đồng dân cư trong việc gìn giữ và bảo vệ di sản (ví dụ khu phố cổ Hội An, khu phố cổ Hà Nội, khu Đại nội Huế…). Người dân và chính quyền cũng khai thác được những giá trị của di sản cho việc phát triển kinh tế và giữ gìn truyền thống văn hoá xã hội. Do vậy, hậu quả của những tác động vật lý từ BĐKH tới di sản đô thị cũng sẽ ảnh hưởng tới sự thay đổi về mặt kinh tế xã hội. Sự suy tàn và mất mát di sản do BĐKH ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và sinh kế của người dân; làm thay đổi lối sống, cách làm việc, thờ tự của cộng đồng và xã hội tại các công trình di sản và cảnh quan bản địa; có thể dẫn đến khả năng người dân phải di chuyển chỗ ở và từ bỏ di sản của họ. Đồng thời, sự tác động của BĐKH sẽ làm suy giảm nguồn lực và năng lực khai thác và bảo tồn di sản đô thị. BĐKH cùng với biến đổi kinh tế - xã hội tác động đến di sản đô thị lớn hơn là chỉ một mình BĐKH. Bảo tồn di sản đô thị dưới tác động của BĐKH cần được xem xét trong bối cảnh phát triển chung về mặt kinh tế - xã hội và nghiên cứu liên ngành. (hình 2)

Quần thể di tích Cố đô Huế có 29 điểm di tích với gần 500 hạng mục công trình chủ yếu làm từ gỗ. Trong những đợt bão lũ vừa qua, nhiều điểm di tích thuộc quần thể Di tích cố đô Huế bị xuống cấp nghiêm trọng. Địa phương đã lên phương án bảo vệ chu đáo nhưng nhiều công trình di tích và vùng đệm vẫn bị mưa bão tác động, trong đó các cấu kiện gỗ, vôi vữa bị ngâm lâu trong mưa lũ hư hại, xuống cấp nhanh. Hệ thống hạ tầng thoát nước mưa tại các khu vực xung quanh Đại nội chưa được cải tạo và nâng cấp nên khả năng thoát nước kém, ảnh hưởng đến quần thể di sản tại Huế. (hình 3,4,5)

Nhận thức rõ tính nghiêm trọng của BĐKH, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã phê duyệt Thỏa thuận Paris về BĐKH tại Hội nghị lần thứ 21 các Bên tham gia Công ước khí hậu (COP 21) năm 2015. Đóng góp thực hiện công ước của Việt Nam bao gồm hai hợp phần chính là: Giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và thích ứng với BĐKH [14]. Hội nghị thế giới về giảm thiểu rủi ro thiên tai lần thứ 3 của LHQ tổ chức tại Sendai, Miyagi, Nhật Bản vào tháng 3/2015 đã thông qua Khung Sendai về Giảm thiểu rủi ro thiên tai (Sendai Framework for Disaster Risk Reduction - DRRSF) giai đoạn 2015 - 2030 trong đó có 4 ưu tiên hành động, cụ thể là : 1) Hiểu biết về rủi ro thiên tai; 2) Tăng cường công tác quản trị để quản lý rủi ro thiên tai; 3) Đầu tư vào giảm nhẹ rủi ro thiên tai nhằm tăng cường khả năng chống chịu; 4) Tăng cường khả năng sẵn sàng để ứng phó hiệu quả và “Xây dựng lại tốt hơn” trong công tác phục hồi và tái thiết. Việt Nam đã xây dựng 6 chương trình ưu tiên liên quan đến giảm thiểu, ứng phó với rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH.

Tại Việt Nam, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của BCH Trung ương Đảng khóa XI về Chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã chỉ rõ: “Chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối chính sách phát triển nền kinh tế - xã hội”.

Trong lĩnh vực đô thị, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Phát triển đô thị Việt Nam ứng phó BĐKH” giai đoạn 2012 - 2020 (Quyết định số 2623/QĐ-TTg ban hành tháng 12/2013) và giai đoạn 2021 - 2030 (Quyết định số 438/QĐ-TTg ban hành tháng 3/2021). Theo Quyết định số 438/QĐ-TTg, tại phụ lục II, Chương trình 1 đã đề ra 6 nhiệm vụ cơ bản, trong đó nhấn mạnh: Khoanh vùng khu vực có nguy cơ chịu tác động cao của BĐKH, hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu và hệ thống bản đồ cảnh báo rủi ro BĐKH tại đô thị; Tích hợp nội dung ứng phó BĐKH vào quy hoạch và chương trình, kế hoạch phát triển đô thị; cảnh báo các rủi ro tại các khu vực phát triển đô thị có khả năng chịu tác động từ BĐKH; Thực hiện các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học - công nghệ, thực hiện các dự án thí điểm phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thông minh, kiến trúc xanh, sinh thái ứng phó với BĐKH.

Các chiến lược phát triển đô thị ứng phó BĐKH ở cấp quốc gia đều có ảnh hưởng lớn đến công tác quy hoạch bảo tồn và gìn giữ di sản đô thị, đặc biệt trong việc hiểu rõ tác động của thiên tai và BĐKH đến đô thị chứa đựng di sản. Các chiến lược đã đặt ra yêu cầu các giải pháp phù hợp với bối cảnh thực tế và năng lực quản lý của địa phương để giảm thiểu và tăng cường khả năng ứng phó với thiên tai và BĐKH.

Phương pháp tiếp cận tăng cường năng lực chống chịu đô thị để góp phần gìn giữ, phát huy giá trị di sản đô thị - hướng tới phát triển bền vững

Với quan điểm di sản đô thị không phải là di tích, di sản đô thị là một bộ phận trong cấu trúc đô thị, được hình thành trong một hoặc nhiều thời kỳ lịch sử của đô thị, chứa đựng các giá trị vật thể và phi vật thể, gắn liền với khung cảnh kiến trúc, môi trường đô thị. Việc bảo tồn, gìn giữ di sản đô thị cần phải được đặt trong bối cảnh đô thị và sự phát triển tiếp nối của đô thị. Trước các tác động của thiên tai và BĐKH, việc bảo tồn gìn giữ các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể của di sản đô thị cần phải được xem xét trong việc tăng cường khả năng chống chịu của đô thị trước BĐKH, làm giảm nhẹ các tác động tiêu cực của BĐKH và thiên tai đến các di sản đô thị.

Vì vậy, phương pháp tiếp cận ở đây là để gìn giữ, phát huy các giá trị di sản đô thị trước các tác động của BĐKH thì đô thị đó cần phải có năng lực chống chịu và khả năng thích ứng tốt với BĐKH [15].

Theo khảo sát của Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) thực hiện tháng 11/2024 với các đô thị trên cả nước (danh mục các đô thị thuộc 40 tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH theo Quyết định số 438/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với BĐKH giai đoạn 2021 - 2030), trong đó có các đô thị lịch sử chứa đựng rất nhiều di sản đô thị như cố đô Huế, đô thị cổ Hội An (Quảng Nam), đô thị Hoa Lư, đô thị Phát Diệm (Ninh Bình), TP Cần Thơ, TP Sóc Trăng… thì 89,8% các đô thị tham gia khảo sát đều đánh giá việc tăng cường năng lực chống chịu của đô thị trước tác động BĐKH và thiên tai sẽ góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường và cảnh quan kiến trúc của đô thị; 85% các đô thị đánh giá khía cạnh “Môi trường và hạ tầng đô thị” là quan trọng nhất; tiếp đến là “Chính sách và công tác quản lý” quan trọng thứ nhì trong việc tăng cường năng lực chống chịu đô thị. Trong đó, khía cạnh Hạ tầng và môi trường đô thị liên quan đến nơi chốn, địa điểm - chất lượng của cơ sở hạ tầng và hệ sinh thái bảo vệ, cung cấp và kết nối người dân trong đô thị, xem xét sự ổn định của cơ sở hạ tầng và hệ sinh thái bảo vệ dân cư khỏi các hiểm họa tự nhiên, các sự kiện khí hậu cực đoan, bảo vệ và kết nối các tài sản đô thị, cho phép luồng lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ và kiến thức. Khía cạnh Chính sách và công tác quản lý được đánh giá dựa trên nhận thức, các quá trình thúc đẩy công tác lãnh đạo hiệu quả, ra quyết định có sự tham gia, các bên liên quan được trao quyền, và quy hoạch mang tính lồng ghép.

Một số giải pháp tăng cường năng lực chống chịu, phát triển bền vững các đô thị lịch sử, đô thị di sản tại Việt Nam trước tác động BĐKH

Giải pháp quy hoạch, cải thiện hệ thống hạ tầng và môi trường đô thị

Có thể khẳng định Quy hoạch cải thiện hệ thống hạ tầng và môi trường đô thị là một trong những công cụ hiệu quả nhất trong việc ứng phó với BĐKH, bởi vì chúng giải quyết cả vấn đề giảm thiểu và thích ứng [16]. Đối với các đô thị lịch sử, đô thị di sản chứa đựng các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể, việc đưa ra các chiến lược, giải pháp liên quan đến quy hoạch, cải thiện nâng cấp hệ thống hạ tầng và môi trường đô thị cần phải có cách tiếp cận toàn diện và xem xét trên bối cảnh rộng lớn hơn phạm vi di tích di sản và các hành động mang tính địa phương, liên quan đến các điều kiện cụ thể về nguồn lực.

Một số giải pháp khuyến nghị cho công tác quy hoạch bảo tồn, tái thiết đô thị để giảm thiểu tác động của BĐKH, thích ứng với BĐKH nhằm hướng tới phát triển bền vững:

Việc lập đồ án quy hoạch bảo tồn, tái thiết đô thị cần được dựa trên các thông tin đầu vào bao gồm: bản đồ hiện trạng ngập lụt, bản đồ dự báo ngập lụt đô thị tương ứng với giai đoạn quy hoạch và lập theo các kịch bản dự báo BĐKH, hệ thống bản đồ cảnh báo rủi ro ngập lụt với các kịch bản về tần suất mưa lớn xuất hiện, hệ thống bản đồ cảnh báo nguy cơ sạt trượt, hệ thống bản đồ mô phỏng mô hình thuỷ lực thuỷ văn… Như vậy, sẽ chỉ rõ được các khu vực có nguy cơ rủi ro BĐKH cao thì cần hạn chế phát triển, giảm mật độ xây dựng, nâng cao độ nền hoặc cần áp dụng các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác động của BĐKH và thích ứng với BĐKH.

Áp dụng mô hình, nguyên tắc quy hoạch tích hợp việc thích ứng với BĐKH trong các đồ án quy hoạch từ quy hoạch chung, quy hoạch phân khu đến quy hoạch chi tiết, trong đó chú trọng tích hợp quy hoạch hạ tầng “xanh”, quy hoạch thoát nước bền vững, thiết kế kiến trúc cảnh quan sinh thái.

Giải pháp thiết kế đô thị và kiến trúc công trình thích ứng với BĐKH, tăng cường khả năng chống chịu của đô thị. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng để tăng cường năng lực chống chịu/thích ứng đô thị với BĐKH, góp phần bảo tồn di sản đô thị.

Có thể thấy, bảo tồn di sản lại là vấn đề địa phương, do chính quyền địa phương, các chuyên gia và người dân tại khu vực trực tiếp quản lý, giữ gìn và thụ hưởng di sản nên rất cần cách tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng “lấy con người là trung tâm” trong đó ICCROM [20] và UNESCO [21] đã nêu lên các nguyên tắc cơ bản: 1) Tôn trọng sự đa dạng; 2) Tập trung vào cả quá khứ và hiện tại; 3) Nắm rõ ảnh hưởng của di sản tới cuộc sống đương đại và làm thế nào nó có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân; 4) Tôn trọng tiếng nói của người dân trong việc bảo tồn và quản lý di sản; 5) Cải thiện mối quan hệ giữa di sản và người dân; 6) Xem xét đến tác động của toàn cầu hóa đối với môi trường sống như các trung tâm đô thị lịch sử và cảnh quan văn hóa; 7) Thừa nhận sự giám sát, theo dõi của người dân trong việc chăm sóc và bảo vệ di sản dài hạn; 8) Tăng cường mối liên kết giữa di sản với sự phát triển xã hội bền vững.

Cách tiếp cận này mở ra lộ trình đưa người dân tham gia vào công tác bảo tồn và gìn giữ di sản đô thị, đặc biệt là những người dân sống trực tiếp tại công trình di sản và các khu vực đô thị lịch sử. Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong việc bảo vệ và giữ gìn di sản, vận dụng những kinh nghiệm và kiến thức bản địa của người dân địa phương - những người cũng chịu tổn thương dưới tác động của BĐKH. Qua việc điều tra khảo sát năng lực chống chịu của các đô thị ven biển miền Trung và Tây Nam Bộ, những chỉ số về sự tổn thương, khả năng thích ứng và khả năng tự phục hồi, những tri thức và kinh nghiệm của người dân bản địa chính là yếu tố then chốt trong việc xây dựng những bài học chung sống với thiên tai và giảm thiểu những tác động tiêu cực đến cơ sở vật chất cũng như đời sống hàng ngày của người dân. Những bài học này chính là nền tảng để phát triển các chiến lược hành động với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn di sản và giữ gìn tri thức bản địa trong bối cảnh ngày càng phức tạp của BĐKH.

Kết luận

Di sản đô thị thường là những cấu trúc sống động, có nhiều thuộc tính, với sự tích tụ đầy đủ nhịp điệu sinh hoạt và phát triển của nó trong quá khứ và cả hiện tại nên việc bảo tồn các giá trị di sản cần có sự tác động ở nhiều cấp độ, mức độ và đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên liên quan khác nhau. Bảo tồn di sản đô thị đặt trong bối cảnh phát triển đô thị bền vững và BĐKH lại càng phức tạp hơn nữa với nhiều yếu tố khó đoán định trên một quá trình dài, sẽ cần phải tiếp cận trên quan điểm “bảo tồn di sản đô thị trong sự phát triển tiếp nối” gắn với bối cảnh thực tế của đô thị.

Cách tiếp cận bảo tồn di sản không chỉ từ góc độ công trình đơn lẻ, mà quan tâm đến không gian đô thị ở quy mô rộng lớn hơn chứa đựng và bao trùm di sản đô thị. Việc tăng cường năng lực chống chịu và thích ứng của đô thị với BĐKH sẽ góp phần tích cực trong việc bảo tồn di sản đô thị.

Sử dụng và khai thác nguồn lực từ cộng đồng, gồm nguồn nhân lực, kinh nghiệm và tri thức truyền thống, sẽ giúp bổ khuyết cho chiến lược tổng thể bảo tồn và gìn giữ di sản ở cấp độ cá nhân và cộng đồng, cùng với sự hỗ trợ về nguồn lực và chia sẻ kinh nghiệm từ cấp độ toàn cầu và khu vực.

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Việt Dũng, 2022, Thích ứng với BĐKH trong quy hoạch và quản lý đô thị, Tạp chí Quy hoạch xây dựng, Bộ Xây dựng, số 101+102.  https://www.viup.vn/vn/Su-co-moi-truong-va-vai-tro-cua-QHDT-n131-Thich-ung-voi-bien-doi-khi-hau-trong-quy-hoach-va-quan-ly-do-thi-d13521.html

2. Bộ TN&MT, 2022, Đánh giá tác động của BĐKH đến các lĩnh vực và khu vực ở Việt Nam.

3. Bộ TN&MT, 2012. Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam. NXB TN-MT và Bản đồ Việt Nam, 96 tr. Hà Nội.

4. Gustavo Giovannoni, 1931, Vecchie città ed edilizia nuova. Torino, Italy: Unione Tipografico Editrice Torinese.

5. ICOMOS, 1987, Hiến chương Washington về bảo vệ thành phố và các khu vực đô thị lịch sử.

6. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/12/24/phat-trien-ben-vung-do-thi-di-san-viet-nam/

7. https://nhandan.vn/bao-ton-va-phat-trien-tiep-noi-di-san-do-thi-post765534.html

8. Cardona, O.-D., van Aalst, M. K., Birkmann, J., Fordham, M., McGregor, G., Perez, R., Pulwarty, R. S., Schipper, E. L. F., and Sinh, B. T., 2012. Determinants of risk: exposure and vulnerability. In Managing the Risks of Extreme Events and Disasters to Advance Climate Change Adatation - A Special Report of Working Groups I and II of the Intergovernmental Panel on Climate Change: Cambridge, UK, and New York, USA. Cambridge University Press, p. 65-108.

9. IPCC, 2007. In: Baede, A.P.M., van der Linden, P., Verbruggen, A. (Eds.), Climate Change 2007: Appendix to Synthesis Report. IPCC, Geneva, pp. 76–89.

10. Loan,P.T & Nga, N.P, 2016, Di sản đô thị và biến đổi khí hậu, Tạp chí Kiến trúc số 10.2016, Hà Nội.

11. Văn hoá thể thao, 2022, Di sản Huế đối diện với nguy cơ xuống cấp do mưa lũ, https://baovanhoa.vn/di-san/di-san-hue%C2%A0doi-dien-voi%C2%A0nguy-co-xuong-cap-do-mua-lu-27159.html

12. https://giaosuphat diem

13. https://kinhtemoitruong.vn/pho-co-hoi-an-lai-ngap-sau-hon-1-m-50947.html

14. https://opendata.monre.gov.vn/dataset/k-ch-b-n-bi-n-d-i-khi-h-u-phien-b-n-c-p-nh-t-nam-2020

15. https://sdgs.un.org/goals

16. Robert Steuteville.,(2021) , Climate adaptation, mitigation, and urban design, Sustainability, Nov. 3, 2021

17. AFD & Cục Phát triển đô thị (BXD), 2024, Báo cáo đánh giá tác động của BĐKH và thiên tai đến TP Huế

18. AFD, 2022, Dự án Cải thiện cơ sở hạ tầng đô thị nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu cho 4 tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ Việt Nam

19. UBND Huyện Kim Sơn, 2024, Thuyết minh điều chỉnh Quy hoạch chung thị trấn Phát Diệm, Ninh Bình theo QĐ số 634/QĐ-UBND ngày 27/8/2024

20. https://www.iccrom.org/projects/cultural-heritage-inclusive-growth-southeast-asia

21. https://whc.unesco.org/en/activities/811/

PGS.TS Tạ Quỳnh Hoa
Thế Công