Bất động sản công nghiệp - hướng tới phát triển đô thị công nghiệp bền vững

07:00 04/05/2023
Bất động sản công nghiệp là những dự án đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, từ việc chủ đầu tư cho thực hiện và xây dựng các công trình như: xây kho bãi cho thuê, nhà xưởng cho thuê, khu đô thị, kho bảo quản cho thuê, văn phòng công ty cho thuê và các dự án đầu tư mặt bằng phục vụ cho việc sản xuất công nghiệp.

I. Đô thị công nghiệp ở Việt Nam

Hiện nay chưa có khái niệm về bất động sản (BĐS) công nghiệp, tuy nhiên, có thể hiểu: BĐS công nghiệp là những dự án đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, từ việc chủ đầu tư cho thực hiện và xây dựng các công trình như: xây kho bãi cho thuê, nhà xưởng cho thuê, khu đô thị, kho bảo quản cho thuê, văn phòng công ty cho thuê và các dự án đầu tư mặt bằng phục vụ cho việc sản xuất công nghiệp.

BĐS hình thành trong tương lai đã và đang là một loại hình đầu tư rất tiềm năng được rất nhiều nhà đầu tư lựa chọn. Đối với công trình xây dựng hình thành trong tương lai cũng có nhiều loại: Công trình xây dựng trong các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các công trình kinh doanh thương mại, dịch vụ, du lịch; nhà đất xây dựng các cơ sở sản xuất phi nông nghiệp nằm ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, các doanh nghiệp… Tuy nhiên, BĐS hình thành trong tương lai vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro do cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện.

Tại Điều 54 Luật Kinh doanh BĐS quy định quyền kinh doanh BĐS hình thành trong tương lai: “Chủ đầu tư dự án BĐS có quyền bán, cho thuê, cho thuê mua nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai. Việc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai được thực hiện theo quy định của Chương này, các quy định tương ứng trong Chương II và các quy định khác có liên quan của Luật này”.

Điều 55 Luật Kinh doanh BĐS - điều kiện của BĐS hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh: “Có giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Giấy phép xây dựng đối với trường hợp phải có Giấy phép xây dựng, giấy tờ về nghiệm thu việc hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ dự án; trường hợp là nhà chung cư, tòa nhà hỗn hợp có mục đích để ở hình thành trong tương lai thì phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó”.

Trong những năm gần đây BĐS công nghiệp là lĩnh vực được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm nhờ yếu tố vĩ mô là sự chuyển đổi, phát triển từ nền kinh tế nông sang công nghiệp và dịch vụ tại Việt Nam, cũng như yếu tố thời cuộc với nhiều dấu hiệu tích cực xuất hiện trên thị trường như các thương vụ mua bán sáp nhật doanh nghiệp, sự gia tăng các diện tích đất công nghiệp mới. Tuy nhiên khác với các thị trường BĐS khác, các thị trường BĐS công nghiệp chủ yếu mới ở hình thức cho thuê. 

BĐS công nghiệp: Là những dự án đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, từ việc chủ đầu tư cho thực hiện và xây dựng các công trình như: xây kho bãi cho thuê, nhà xưởng cho thuê, khu đô thị, kho bảo quản cho thuê, văn phòng công ty cho thuê và các dự án đầu tư mặt bằng phục vụ cho việc sản xuất công nghiệp.

Nhu cầu về kho vận logistics cũng sẽ là cơ hội hỗ trợ đáng kể trong việc giúp BĐS công nghiệp phát triển mạnh trong tương lai cùng với BĐS công nghiệp truyền thống.

Theo báo cáo của JLL quý II/2021 đã ghi nhận thêm nguồn cung mới từ KCN Yên Mỹ tại Hưng Yên của chủ đầu tư Viglacera Yên Mỹ tại thị trường BĐS cho thuê tại miền Bắc, từ đó tăng tổng số diện tích đất công nghiệp cho thuê lên gần 9.700 ha. Bên cạnh đó, chủ đầu tư Viglacera cũng đã khởi công KCN Thuận Thành I ở Bắc Ninh năm 2021 [1]. 

Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên phát sinh nhu cầu cao về BĐS công nghiệp. Nhiều tập đoàn lớn nước ngoài đang chọn Việt Nam là quốc gia để đặt nhà máy sản xuất và đầu tư dài hạn, trở thành tiền đề và điều kiện để hình thành BĐS công nghiệp.

Nhu cầu về địa điểm thuê nhà xưởng, kho bãi cũng tăng. Các DN nên sức hút từ BĐS công nghiệp của Việt Nam cao hơn so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên BĐS công nghiệp đang gặp nhiều khó khăn như:

- Trong quy hoạch các KCN chưa kết nối được quy hoạch phát triển kinh tế của vùng. Vì vậy, chưa phát huy hết thế mạnh và tiềm năng phát triển của thị trường BĐS công nghiệp.

- Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các KCN đang trở thành những thách thức lớn, điển hình như vụ Vedan, Formosa… dẫn đến nhiều nhà đầu tư không mặn mà với việc đầu tư BĐS công nghiệp do yếu tố môi trường tác động.

- Việc tiếp cận thông tin về thị trường BĐS nói chung và thị trường BĐS công nghiệp nói riêng còn nhiều hạn chế như thiếu thông tin, các nguyên tắc kinh tế thị trường chưa được hoàn thiện..., từ đó, gây nhiều rủi ro đối với sự phát triển của thị trường BĐS công nghiệp.

Báo cáo cập nhật của Cục Quản lý nhà và thị trường BĐS (Bộ Xây dựng) cho thấy, một số dự án đầu tư KCN mới được chấp thuận đầu tư và triển khai thực hiện trong 6 tháng đầu năm trên địa bàn cả nước đã góp phần bổ sung nguồn cung mới cho thị trường trong tương lai.

Tỷ lệ lấp đầy ở các KCN của cả nước trong nửa đầu năm 2022 có xu hướng tăng và đạt ở mức cao. Trong đó tỷ lệ lấp đầy các KCN ở phía Bắc trong nửa đầu năm 2022 đạt khoảng 80%, tỷ lệ lấp đầy các KCN tại các tỉnh, thành phía Nam là khoảng 85%.

Giá thuê BĐS công nghiệp trong quý II/2022 tiếp tục có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, tại khu vực phía Bắc tăng từ 5 - 12% và tại khu vực phía Nam tăng từ 8 - 13% so với cùng kỳ năm 2021 [2]

Nhu cầu thuê đất KCN của nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục được đánh giá tăng trưởng tích cực và sẽ là động lực cho sự phát triển của ngành công nghiệp xây dựng hạ tầng KCN. Các ưu đãi thuế của Chính phủ dành cho các công ty công nghệ cao là động lực thúc đẩy các công ty này gia nhập thị trường Việt Nam. Những ưu đãi này cũng áp dụng cho các dự án đầu tư về nông nghiệp thông minh, các sáng kiến bền vững và thân thiện với môi trường.

Tỷ lệ lấp đầy gần như tuyệt đối cùng giá thành tăng cao đã phản ánh mức độ và nhu cầu đầu tư của các DN quốc tế vào Việt Nam. Điều này mở ra cánh cửa để các nhà phát triển BĐS trong và ngoài nước đưa ra những sản phẩm mới nhằm đáp ứng nguồn cầu trong thị trường. 

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), hiện nay Việt Nam đang là điểm sáng trong thu hút đầu tư nước ngoài, các DN hàng đầu từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc... đều xem Việt Nam là một điểm đến ưu tiên. Đây là kết quả của việc Chính phủ vừa kiểm soát tốt dịch, vừa thúc đẩy sản xuất - kinh doanh, chặn đà suy giảm kinh tế. Hơn nữa, với những cơ hội từ các hiệp định thương mại đem lại, triển vọng tăng trưởng của Việt Nam vẫn được đánh giá cao [3].

II. Phát triển đô thị công nghiệp bền vững

II.1. Đô thị công nghiệp 

Đô thị công nghiệp: Là đô thị mà ở đó chức năng sản xuất công nghiệp là chính (tác giả, 2021).

Kinh nghiệm phát triển đô thị công nghiệp trên thế giới và cơ sở lý luận về đô thị công nghiệp:

Cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu đã hình thành nhiều đô thị công nghiệp ở Anh và Pháp, đòi hỏi phải có một cơ cấu đô thị mới phù hợp với tính chất của một số đô thị công nghiệp. 

Lý luận về đô thị công nghiệp cũng đã được Le Corbusier phát triển trên cơ sở lí luận về quy hoạch thành phố chuỗi và dải.

Khi nghiên cứu về quy hoạch thành phố Stalingrad, Miliutin đã chia thành phố ra 6 dải: sông, cây xanh, khu ở, đường cao tốc, khu cách ly và đường sắt.

Quan niệm về thành phố tuyến đã đạt tới mức độ hoàn chính. 6 yếu tố chức năng của khu đô thị đều phát triển song song và không dẫm đạp lên nhau [8].

Phát triển KCN ở Việt Nam - Tiền đề của đô thị công nghiệp:

Việt Nam đã phát triển một số lượng lớn các KCN trên khắp cả nước. Đến tháng 02/2021 cả nước có 370 KCN được thành lập. KCN đã đang hoạt động là 284, chiếm 77%. Tổng diện tích đất tự nhiên đạt khoảng 84,2 nghìn héc-ta, diện tích đất công nghiệp đạt khoảng 55,9 nghìn héc-ta, chiếm 66,3%. Tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê của các KCN đạt khoảng 43,4 nghìn héc-ta, tỷ lệ lấp đầy KCN đạt 57,8%, riêng các KCN đã hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng và đi vào hoạt động có tỷ lệ lấp đầy khoảng 71,7%.

Các KCN đã tạo việc làm cho khoảng 4 triệu lao động trực tiếp, 3 triệu lao động gián tiếp, góp phần ổn định kinh tế - xã hội.

KCN Phú Nghĩa, Chương Mỹ, Hà Nội.

Các KCN phát triển với quy mô và số lượng lớn trên khắp cả nước, nhưng số lượng các đô thị được hình thành từ KCN còn rất hạn chế. Hiện toàn quốc chỉ có khoảng 20 khu đô thị - công nghiệp của một số nhà đầu tư lớn như VSIP, Becamex, Amata. Các KCN đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, hình thành nhiều khu đô thị, dịch vụ mới, phát triển du lịch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Góp phần phát triển nhiều ngành dịch vụ chất lượng cao và xây dựng chuỗi liên kết ngành.

Quy hoạch KĐT CN Đại Kim - Bắc Ninh.

Ngày nay, đô thị được hình thành từ các khu chức năng; KKT cửa khẩu, KKT biển, KKT tập trung, KCN, khu nông nghiệp, khu đô thị du lịch, thành phố đại học… Những đặc thù của mỗi khu vực có tiềm năng địa kinh tế như trên, chính là tiền đề động lực để tạo lập đô thị.

Sự chuyển hóa từ khu công nghiệp đến đô thị công nghiệp:

Bộ phận dân cư bao gồm nhà ở cho người lao động và những hạ tầng thiết yếu đều phải được xem như là một trong những thành phần cơ bản của KCN, cho nên quy hoạch phát triển các KCN phải kết hợp quy hoạch lại các điểm và cụm dân cư cùng với hạ tầng xã hội kèm theo.

Quá trình tập trung công nghiệp thường tạo ra những không gian công nghiệp đặc thù có quy mô, mức độ liên kết và tính đa dạng trong các cách khác nhau. Có thể phân biệt ở 9 cấp độ cơ bản.

Mô hình 9 cấp độ cơ bản chuyển hóa từ không gian công nghiệp đến đô thị công nghiệp (Nguồn: PGS.TS Lưu Đức Hải, ThS Nguyễn Xuân Đức, ThS Lê Kim Hoà, 10/2021)

II.2. Đô thị bền vững

Việt Nam đã xây dựng kế hoạch hành động Quốc gia hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc. Kế hoạch dựa trên cơ sở thực tiễn của đất nước, các tỉnh, thành phố, địa phương; tham vấn các cấp, các ngành. Mục tiêu phát triển bền vững đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào năm 2019 và cũng có 17 mục tiêu chung với 119 chỉ tiêu cụ thể [4].

17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc [5].

Bảng 1: Lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững Việt Nam đến năm 2030 (có liên quan đến phát triển bền vững đô thị).

a) Hệ thống các tiêu chí, tiêu chuẩn của đô thị bền vững

Phát triển đô thị bền vững phải kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Sau đây là một vài kinh nghiệm của nước ngoài về phát triển bền vững (bảng 2 và 3) [6].

Bảng 2: Các tiêu chí về bảo vệ môi trường tại các thành phố lớn ở Trung Quốc.

Ghi chú: Giá trị trung bình quốc gia được tính cho tất cả các đô thị Trung Quốc. (Nguồn: Cục Bảo vệ Môi truờng Trung Quốc, 2003).

Bảng 3: Bộ tiêu chuẩn phát triển đô thị bền vững của Malaysia.

Ở Việt Nam cũng đã đề xuất các tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá giao thông đô thị bền vững (bảng 4) [7].

Bảng 4: Tổng hợp các tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá hệ thống giao thông đô thị phát triển bền vững.

Trên thế giới có nhiều nước đã đưa ra các tiêu chuẩn phát triển đô thị bền vững như Hàn Quốc đã xây dựng đô thị bền vững tập trung vào 4 chiến lược với 48 tiêu chuẩn và 223 tiêu chí cụ thể. 4 chiến lược là quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên, xã hội, hội nhập và nâng cao sức khỏe quốc gia, tăng trưởng kinh tế bền vững, ứng phó với thay đổi khí hậu và vấn đề môi trường toàn cầu.

Tại Trung Quốc, Cục Môi trường Trung Quốc đã đề ra bộ tiêu chuẩn gồm 30 tiêu chí trong 7 nhóm chỉ số cơ bản: Nhân khẩu học, sinh thái, tài nguyên, môi trường, kinh tế, xã hội, và khoa học giáo dục để cải thiện chất lượng môi trường đô thị.

Tại Malaysia đã đưa ra tiêu chuẩn phát triển bền cũng gồm 11 lĩnh vực với 50 tiêu chuẩn: 11 tiêu chí bao gồm: Cơ cấu dân số, nhà ở, kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội, môi trường, tác động xã hội, sử dụng đất, hình thức đô thị và di sản, giao thông, quản lý và tài chính.

Tại Việt Nam đã ban hành chỉ tiêu về phát triển bền vững cho toàn quốc, tuy nhiên, vẫn chưa ban hành tiêu chuẩn, tiêu chí để công nhận đô thị bền vững.

b) Đề xuất tiêu chí đánh giá đô thị bền vững

Nhóm nghiên cứu đề tài RD 12-21 đề xuất các tiêu chí đánh giá đô thị bền vững như sau [6]:

Bảng 5: Tiêu chí đánh giá đô thị bền vững.

II.3. Phát triển đô thị công nghiệp bền vững

Phát triền đô thị công nghiệp bền vững đang trở thành xu hướng trên thế giới và của Việt Nam. Tại Nghị Quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045 ngày 24/01/2022 đã đề ra các nhiệm vụ và giải pháp để hướng tới phát triển đô thị bền vững có đề cập đến việc phát triển công nghiệp bền vững như:

- Hoàn thiện pháp luật và các cơ chế, chính sách tạo thuận lợi cho việc đầu tư kết cấu hạ tầng tại các KCN, KCX, khu công nghệ cao. Kiểm soát việc sử dụng đất xây dựng KCN, KCX, khu công nghệ cao, các cụm công nghiệp. Có chính sách khuyến khích, ưu đãi đặc biệt về thuế đối với các dự án cung cấp dịch vụ xã hội đô thị ở các KKT, các vùng công nghiệp lớn.

- Bố trí nguồn lực và triển khai thực hiện và phát triển nhà ở xã hội, đặc biệt là nhà ở cho người lao động tại các KCN. 

- Nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách riêng về đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân KCN theo hướng ưu tiên bố trí đủ quỹ đất phát triển nhà ở cho công nhân và các thiết chế khác trong KCN, coi nhà ở công nhân là một hạ tầng thiết yếu của KCN.

- Tăng cường các biện pháp kiểm soát, cải thiện chất lượng không khí tại các đô thị, giảm thiểu nhanh ô nhiễm bụi, tiếng ồn; xây dựng đồng bộ hệ thống quan trắc, giám sát chất lượng môi trường tại các đô thị; chú trọng xử lý nước thải sinh hoạt và chất thải rắn đô thị; cải thiện căn bản tình trạng ô nhiễm môi trường và vệ sinh môi trường ở các KCN, cụm công nghiệp, các khu nhà ở của người thu nhập thấp trong các đô thị. Có định hướng và giải pháp phát triển các vùng đệm xanh xung quanh các đô thị; phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp xanh phục vụ đô thị.

- Khuyến khích phát triển các thị tứ, thị trấn nông - công nghiệp trên cơ sở các khu dân cư nông thôn hiện có trở thành các trung tâm dịch vụ, sản xuất, chế biến, cung cấp thực phẩm, nguyên liệu, chuyển giao công nghệ... Ban hành các chính sách khuyến khích và nhân rộng các mô hình KKT, KCN sinh thái ven biển gắn với hình thành phát triển đô thị tại các địa phương ven biển, mô hình KCN - đô thị - dịch vụ tại các đô thị. 

Để hướng tới phát triển đô thị công nghiệp bền vững cần:

- Làm rõ các khái niệm còn thiếu như [6]:

+ KCN: Là địa bàn tập trung công nghiệp, bao gồm một số điểm công nghiệp phát triển gần nhau; thống nhất sử dụng mạng lưới hạ tầng, có thể có những liên hệ sản xuất nhất định giữa các xí nghiệp. Hình thái tập trung này cho phép sử dụng hiệu quả hơn mạng lưới hạ tầng và các nguồn lực quan trọng khác.

+ Điểm dân cư công nghiệp: Là nơi cư trú tập trung của các hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất công nghiệp, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi KCN - khu dân cư - khu dịch vụ, được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và các yếu tố khác mà trong đó chức năng sản xuất công nghiệp là chính.

+ Đô thị công nghiệp: Là đô thị mà ở đó chức năng sản xuất công nghiệp là chính.

+ Đô thị công nghiệp bền vững: Là đô thị được hình thành từ điểm dân cư công nghiệp trên cơ sở phát triển hài hòa các yếu tố kinh tế - xã hội, môi trường, chính quyền, không gian cảnh quan, cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao chất lượng sống của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến nhu cầu phát triển của thế hệ tương lai (PGS.TS Lưu Đức Hải, KS Trần Văn Hành, 10/2022).

- Cơ chế, chính sách:

+ Đổi mới cơ chế, chính sách để bảo đảm đồng bộ pháp luật về đất đai, nhà ở, đầu tư, đề nghị sửa Điều 149 Luật Đất đai theo hướng khi đầu tư hạ tầng KCN thì, phải có quy hoạch xây dựng khu nhà ở, công trình cho người lao động trong KCN”. 

+ Cần làm rõ khái niệm khu chức năng trong Luật Quy hoạch vận dụng như thế nào đối với mô hình KCN - đô thị - dịch vụ, đảm bảo sự gắn kết giữa chức năng công nghiệp và chức năng đô thị - dịch vụ với mục tiêu hỗ trợ cho chức năng khu công nghiệp đặc biệt về vấn đề nhà ở công nhân và hạ tầng xã hội cho công nhân của KCN.

+ Bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp lý về Luật Quy hoạch đô thị, Luật Đất đai, Luật Kinh doanh BĐS cho đối tượng khu nhà ở và dịch vụ công nhân KCN, định danh được mô hình phát triển “Đô thị công nghiệp”, hình thành thị trường BĐS công nghiệp.

+ Xây dựng hoàn thiện tiêu chí, tiêu chuẩn về quy mô, cơ cấu sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật trong KCN phù hợp với từng loại hình sản xuất, theo yêu cầu phát triển. Điều này đồng nghĩa với việc quy định rõ các mô hình phát triển KCN để làm cơ sở trong tổ chức thực hiện.

+ Đẩy mạnh tiến độ hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư tư nhân và bảo đảm hoạt động của kinh tế tư nhân theo cơ chế thị trường; hoàn thiện thể chế, cơ chế hợp tác công - tư trong đầu tư, khai thác, sử dụng, kinh doanh các dự án, công trình kết cấu hạ tầng KCN.

+ Phát triển các KCN trong quy hoạch tỉnh phải tính đến việc bố trí nhà ở cho công nhân và thiết chế công đoàn. Bảo đảm đủ quỹ đất cho phát triển nhà ở, đặc biệt là nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân KCN; quy hoạch KCN phải gắn với quy hoạch hạ tầng xã hội; bố trí nguồn lực hợp lý để đầu tư các hạ tầng xã hội thiết yếu (trường học, nhà trẻ, cơ sở khám chữa bệnh, văn hóa, thể thao...).

+ Cho phép thành lập quỹ nhà ở cho người lao động làm việc trong các KCN nhằm hỗ trợ tiền thuê, mua nhà cho người lao động trong KCN. Tạo điều kiện thuận lợi giúp các hộ gia đình, cá nhân cũng như công nhân KCN tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, được cung cấp điện, nước theo giá sinh hoạt ưu đãi đối với các khu nhà ở công nhân, được hỗ trợ việc đầu tư hệ thống hạ tầng thiết yếu đối với khu vực xây dựng nhà ở dành cho công nhân KCN.

+ Tích hợp hệ thống KCN với hệ thống đô thị mới và các điểm dân cư công nghiệp cần được thể hiện rõ trong Quy hoạch hệ thống đô thị - nông thôn để tạo ra sức mạnh tổng hợp giữa phát triển sản xuất và nguồn nhân lực; gắn kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào kỹ thuật; gắn kết giữa phát triển đô thị và hệ thống điểm dân cư hiện đại và hệ thống KCN.

- Phát triển các KCN phải đảm bảo hài hòa lợi ích, có tầm nhìn dài hạn, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường là mục tiêu cao nhất, khai thác tốt các lợi thế tiềm năng địa phương và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của các vùng lãnh thổ và cả nước.

- Phát triển theo hướng hình thành vùng công nghiệp - đô thị hiện đại gắn kết giữa phát triển khu đô thị, KCN, khu thương mại - dịch vụ, hướng tới đô thị công nghiệp phát triển bền vững.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. vinhomes.vn - “Bất động sản công nghiệp sẽ là tương lai của thị trường bất động sản Việt Nam?” - 24/08/2021.
2. baochinhphu.vn - “Bất động sản công nghiệp được bổ sung nhiều nguồn cung mới” - 29/07/2022.
3. thuvienbatdongsan.vn - “Nhà đầu tư tấp nập mở rộng bất động sản công nghiệp” - 09/08/2022.
4. tuyenquang.dcs.vn - “Mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam và Thế giới”- 2021.
5. vietnam.opendevelopmentmekong.net - “Mục tiêu phát triển bền vững” - 2020.
6. PGS.TS Lưu Đức Hải và nnk - “Đô thị bền vững” - Dự thảo, đề tài RD 12-21, 9/2022.
7. PGS.TS Lưu Đức Hải, ThS Đinh Quốc Thái - “Quy hoạch giao thông đô thị bền vững” - NXB Xây dựng, 2012.
8. PGS.TS Trương Quang Thao - “Đô thị học” - NXB Xây dựng, 2001.

 

Bình luận
Nhà ở xã hội SUNRISE HOME Ngọc Hồi Công ty IDECO Công ty portcoast Công ty Xe đạp Thống Nhất