Bê tông lắp ghép đã có năng lực, nhưng vẫn chưa thành sức mạnh hệ thống

07:49 21/04/2026
Ở Việt Nam, bê tông lắp ghép từ nhà cao tầng, nền móng, hạ tầng đô thị đến công trình ngầm đã vượt qua giai đoạn thử nghiệm, nhưng còn thiếu khả năng tổ chức toàn bộ chuỗi thiết kế - tiêu chuẩn - sản xuất - thi công thành một hệ thống công nghiệp đồng bộ.

Thị trường có quy mô, nhưng công nghiệp hóa mới ở giai đoạn đầu

Nếu chỉ nhìn theo cách thông thường, có thể nói công nghệ bê tông lắp ghép (precast) ở Việt Nam đã đi được một chặng khá dài. Các tham luận tại Hội thảo quốc tế về công nghiệp hoá xây dựng bằng cấu kiện bê tông đúc sẵn, do Hội Bê tông Việt Nam (VCA) cùng các đối tác tổ chức, ngày 20/4, cho thấy năng lực sản xuất, thi công và ứng dụng đã hình thành trên nhiều lĩnh vực, từ nhà cao tầng, nền móng, hạ tầng đô thị cho tới công trình ngầm. Trên thực tế, doanh nghiệp Việt Nam đã làm được precast ở nhiều cấp độ khác nhau, thậm chí ở một số mảng đã hình thành quy mô công nghiệp tương đối rõ.

Chính vì đã đi qua giai đoạn thử nghiệm, nên bài toán precast của Việt Nam hiện nay phải được đặt ở một tầng khác khi yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bước sang giai đoạn mới, với khối lượng đầu tư hạ tầng lớn hơn, yêu cầu tiến độ khắt khe hơn, tiêu chuẩn môi trường và độ bền công trình cao hơn, đó là khả năng tổ chức được cả hệ thống. Nói cách khác, Việt Nam đã có nhiều mảnh năng lực precast nhưng chưa ghép chúng thành năng lực hệ thống.

Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền sản xuất precast quy mô lớn, từng bước hình thành năng lực công nghiệp trong xây dựng.

Theo tổng hợp của TS Lê Quang Hùng - Chủ tịch VCA, precast tại Việt Nam hiện chiếm khoảng 15-20% tổng sản lượng bê tông, trong bối cảnh tiêu thụ xi măng đạt khoảng 76 triệu tấn/năm. Đây là một dữ liệu rất đáng chú ý, bởi nó cho thấy precast không còn là công nghệ bên lề, rõ ràng thị trường đã hình thành, doanh nghiệp đã đầu tư, chuỗi cung ứng đã xuất hiện và công nghệ precast đã có chỗ đứng nhất định trong thực tiễn ngành Xây dựng.

Tuy nhiên, TS Lê Quang Hùng cũng chỉ ra một mặt khác của vấn đề. So với tỷ lệ precast chiếm khoảng 25% tại Trung Quốc, mức 15-20% của Việt Nam phản ánh quá trình công nghiệp hóa xây dựng mới ở giai đoạn đầu. Khoảng cách này không chỉ là chênh lệch về tỷ trọng thị trường. Nó phản ánh khoảng cách về mức độ phổ cập công nghệ, mức độ chuẩn hóa trong sản xuất và đặc biệt là mức độ chuyển dịch từ mô hình thi công tại chỗ sang mô hình sản xuất công nghiệp. Nói ngắn gọn, Việt Nam đã có thị trường precast, nhưng thị trường đó chưa đủ mạnh để trở thành nền tảng tái cấu trúc phương thức xây dựng của toàn Ngành.

Một công nghệ có thị trường không đồng nghĩa với việc công nghệ ấy đã trở thành phương thức chủ đạo. Một số doanh nghiệp có thể làm tốt, một số dự án có thể thành công, nhưng nếu chưa tạo được mặt bằng chung cho toàn thị trường, thì công nghệ đó vẫn tồn tại chủ yếu như những điểm sáng phân tán. Và đó chính là trạng thái của precast ở Việt Nam hiện nay: có thực lực nhưng chưa tạo được lực kéo hệ thống.

Có năng lực theo chuỗi nhưng các chuỗi chưa nối với nhau

Tổng hợp các bài tham luận tại Hội thảo cho thấy, ở lĩnh vực nhà cao tầng, các doanh nghiệp như Công ty CP Đầu tư và xây dựng Xuân Mai có năng lực không còn dừng ở mức sản xuất cấu kiện rời, mà sở hữu một số nhà máy đã đạt công suất khoảng 60.000 m³ cấu kiện/năm, với hệ cấu kiện tương đối đầy đủ: cột, dầm, sàn panel đến tường đúc sẵn. Các cấu kiện này được áp dụng cho công trình có khẩu độ 10-13 m, tổ chức thi công bằng cẩu lắp 100-200 tấn, qua đó cho phép rút ngắn đáng kể thời gian xây dựng.

Điều quan trọng ở đây không chỉ là công suất hay thiết bị, mà ý nghĩa lớn hơn là Xuân Mai đã đi qua giai đoạn “đúc sẵn từng cấu kiện” để bước sang giai đoạn tổ chức thi công lắp ghép ở cấp độ công trình. Đây là sự thay đổi có tính bản chất. Bởi công nghiệp hóa xây dựng không chỉ là chuyện có nhà máy, mà là khả năng kết nối thiết kế, sản xuất, vận chuyển, cẩu lắp và kiểm soát hiện trường thành một quy trình đồng bộ. Khi làm được điều đó trong nhà cao tầng, doanh nghiệp Việt Nam đã chứng minh được rằng họ không còn đứng ở ngưỡng thử nghiệm.

So sánh với thi công truyền thống, lắp ghép giúp giảm phụ thuộc vào nhân công, rút ngắn tiến độ và nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng.

Tuy vậy, những năng lực như vậy hiện vẫn chủ yếu tập trung ở một số doanh nghiệp đi trước, chưa trở thành mặt bằng chung của thị trường, có nghĩa là công nghệ đã chứng minh được tính khả thi, nhưng chưa được chuẩn hóa và nhân rộng thành năng lực phổ quát của Ngành.

Nếu mảng nhà cao tầng cho thấy năng lực tổ chức công trình, thì lĩnh vực nền móng lại phản ánh rõ hơn sức sản xuất công nghiệp. Công ty CP Đầu tư Phan Vũ có sản lượng cọc ly tâm dự ứng lực đạt khoảng 655.000 m³/năm, với hơn 2.500 dự án đã triển khai. Đây là mảng có mức độ tiêu chuẩn hóa cao nhất hiện nay trong hệ precast của Việt Nam. Chuỗi sản xuất đã tương đối ổn định, chất lượng có mức đồng đều khá cao, thị trường chấp nhận rộng và quy mô cung ứng đủ lớn để tạo thành một năng lực công nghiệp rõ nét.

Nhìn từ góc độ phát triển Ngành, đây là minh chứng quan trọng cho thấy Việt Nam không thiếu năng lực công nghiệp hóa. Khi sản phẩm phù hợp với logic sản xuất hàng loạt, và khi nhu cầu thị trường đủ lớn, doanh nghiệp trong nước hoàn toàn có thể phát triển mạnh. Nhưng đồng thời, thành công đó cũng cho thấy giới hạn hiện nay: năng lực mới chủ yếu tập trung ở một mắt xích của hệ kết cấu, tức là phần nền móng, chứ chưa được kéo lên thành năng lực tích hợp cho toàn bộ hệ công trình. Điều này nói lên rằng, Việt Nam không thiếu doanh nghiệp mạnh, mà thiếu cơ chế để các năng lực mạnh ở từng đoạn gặp nhau trong một kiến trúc chung.

Còn tại Công ty CP Khoa học công nghệ Việt Nam (Busadco) cho thấy một bước phát triển quan trọng khác: từ cấu kiện rời sang giải pháp đồng bộ. Các cấu kiện bê tông đúc sẵn được doanh nghiệp này phát triển thành hệ thống cho thoát nước, chống ngập và bảo vệ bờ kè, với thiết kế modul, sản xuất hàng loạt và lắp ghép tại hiện trường. Đây là dấu hiệu cho thấy một phần của Ngành đã bắt đầu thay đổi tư duy: không chỉ cung cấp sản phẩm, mà tổ chức công trình theo logic hệ thống.

Sự chuyển dịch này đáng chú ý ở chỗ, công nghiệp hóa xây dựng chỉ thực sự có ý nghĩa khi cấu kiện không còn là từng món hàng đơn lẻ, mà được thiết kế như một bộ phận của cả hệ thống công trình. Ở hạ tầng đô thị, điều đó đã bắt đầu xuất hiện. Nhưng phạm vi áp dụng vẫn còn phụ thuộc nhiều vào từng địa phương và từng dự án, chưa hình thành thị trường thống nhất đủ rộng để các mô hình này lan tỏa thành mặt bằng chung. Nói cách khác, Việt Nam đã có những ví dụ cho thấy precast có thể trở thành giải pháp hệ thống, nhưng chưa có cơ chế đủ mạnh để những ví dụ ấy trở thành chuẩn chung.

Một trong những minh chứng quan trọng nhất tại Hội thảo là trường hợp Công ty CP Fecon trong lĩnh vực công trình ngầm. Doanh nghiệp này đã tham gia thi công các đoạn hầm metro bằng công nghệ TBM, sử dụng segment bê tông đúc sẵn với đường kính khoảng 6,3 m và chiều dài thi công khoảng 2,5 km. Điều đó cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đã có thể bước vào các công nghệ ngầm hiện đại, không còn đứng ở vị trí chỉ quan sát hoặc học hỏi từ bên ngoài.

Tuy nhiên, chính thực tiễn này cũng cho thấy rất rõ ranh giới giữa “tham gia” và “làm chủ”. Năng lực hiện có của Fecon vẫn chủ yếu mạnh ở khâu thi công và lắp ghép, trong khi thiết kế segment (phân khúc) và công nghệ lõi còn phụ thuộc vào đối tác nước ngoài. Đây là sự phân biệt rất quan trọng, bởi trong các dự án ngầm hiện đại, giá trị cao nhất không chỉ nằm ở việc thi công đúng quy trình, mà nằm ở khả năng làm chủ thiết kế, tối ưu kỹ thuật, kiểm soát sai số, nội địa hóa vật liệu và hệ thống tiêu chuẩn đi kèm. Khi những phần đó chưa được làm chủ, thì năng lực hiện tại dù đáng ghi nhận vẫn mới ở cấp độ tiếp cận công nghệ, chưa phải làm chủ hệ công nghệ.

Song song với các doanh nghiệp sản xuất và thi công, thị trường Việt Nam còn có các doanh nghiệp như Sika Việt Nam hay Fico-YTL cho thấy Ngành đã bắt đầu chạm tới tầng công nghệ vật liệu. Các giải pháp phụ gia cho phép tăng cường độ sớm, kiểm soát co ngót, giảm nhu cầu dưỡng nhiệt, hướng tới bê tông cường độ cao và giảm phát thải. Hay vật liệu GFRP với đặc tính nhẹ hơn thép khoảng 4 lần và tuổi thọ trên 100 năm, phù hợp với các công trình ven biển và môi trường khắc nghiệt…

Những dữ liệu này rất quan trọng, bởi công nghiệp hóa xây dựng không thể đi xa nếu không có nền vật liệu tương thích. Nhưng cũng cần hiểu rằng, các công nghệ này hiện mới chủ yếu ở dạng ứng dụng chọn lọc, chưa trở thành mặt bằng chung của toàn Ngành. Tức là, Việt Nam đã có điểm sáng công nghệ, nhưng chưa có mặt bằng công nghệ đồng đều. Và khi chưa có mặt bằng đó, khả năng nhân rộng ở quy mô lớn vẫn còn hạn chế.

Yêu cầu phát triển mới đang làm lộ giới hạn của phương thức thi công truyền thống

Một trong những điểm cốt lõi mà TS Lê Quang Hùng chỉ ra là, phương thức thi công truyền thống dựa nhiều vào lao động tại chỗ không còn phù hợp với yêu cầu phát triển mới. Theo phân tích được nêu, thi công đổ tại chỗ phụ thuộc lớn vào nhân công, thời gian kéo dài, khó kiểm soát tiến độ, chất lượng phụ thuộc nhiều vào điều kiện hiện trường. Trong khi đó, bối cảnh phát triển hiện nay lại đòi hỏi rút ngắn thời gian thi công, kiểm soát chất lượng ổn định và giảm phụ thuộc vào lao động thủ công.

Đây không chỉ là khác biệt giữa hai phương án kỹ thuật, mà là khác biệt giữa hai mô hình phát triển ngành Xây dựng. Khi khối lượng đầu tư chưa lớn, mô hình thi công truyền thống có thể còn thích ứng bằng cách tăng lao động, kéo dài tiến độ hoặc chấp nhận mức dao động lớn hơn về chất lượng. Nhưng khi bước vào giai đoạn đầu tư hạ tầng lớn, với các dự án hạ tầng quy mô lớn như: metro, đường sắt tốc độ cao, công trình ngầm, hạ tầng đô thị và thích ứng BĐKH, thì giới hạn của mô hình truyền thống bắt đầu hiện rõ. Không thể mãi mở rộng bằng lao động thủ công để đáp ứng yêu cầu tiến độ; càng không thể kỳ vọng những công trình đòi hỏi sai số nhỏ, tuổi thọ cao và tính lặp lại lớn vẫn được tổ chức chủ yếu theo logic thi công hiện trường.

Các loại cấu kiện precast như cọc, dầm, panel và segment hầm được sản xuất và lắp ghép theo quy trình công nghiệp.

TS Lê Quang Hùng cũng đặt vấn đề trong tương quan quốc tế, Trung Quốc đã phát triển hơn 50.000 km đường sắt cao tốc, hệ thống metro lên tới hàng nghìn km, trong khi Việt Nam hiện mới có khoảng 70 km metro và chưa triển khai đường sắt tốc độ cao. Khoảng cách này không chỉ là khoảng cách về vốn đầu tư. Nó là khoảng cách về năng lực tổ chức xây dựng, về năng suất thi công và về mức độ công nghiệp hóa của cả Ngành. Khi quy mô hạ tầng trong tương lai được dự báo tăng mạnh, giới hạn của phương thức truyền thống sẽ càng lộ rõ.

Song song với tiến độ và quy mô, TS Lê Quang Hùng cũng nhấn mạnh áp lực về chất lượng, độ bền và phát triển bền vững. Trong bối cảnh BĐKH, công trình phải chịu tải trọng môi trường lớn hơn, đòi hỏi chất lượng ổn định hơn, tuổi thọ cao hơn. Trong khi đó, ngành Xây dựng tiêu thụ lượng lớn tài nguyên và phát thải CO₂ đáng kể thông qua sản xuất xi măng và thi công. Xu hướng quốc tế hiện yêu cầu giảm phát thải carbon, tối ưu sử dụng vật liệu và nâng cao hiệu quả vòng đời công trình. Điều đó tạo ra áp lực buộc Ngành phải chuyển từ thi công truyền thống sang các giải pháp sản xuất công nghiệp, tiêu chuẩn hóa quy trình, kiểm soát chất lượng trong môi trường ổn định hơn và giảm lãng phí tại hiện trường.

Nói cách khác, precast ở đây không chỉ là một giải pháp kết cấu, nó là một câu trả lời cho bài toán về năng suất - chất lượng - môi trường của ngành Xây dựng trong giai đoạn mới. Chính vì vậy, câu chuyện precast không thể tiếp tục được nhìn như một lựa chọn kỹ thuật bổ sung, mà phải được nhìn như một phần của chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong xây dựng.

PGS.TS Ngô Văn Minh - Đại học Giao thông vận tải đã chỉ ra đúng tầng năng lực mà Ngành cần hướng tới trong giai đoạn tiếp theo. Với các công trình như đường sắt tốc độ cao, dầm bê tông dự ứng lực có thể có tải trọng lên tới 800-850 tấn, yêu cầu dung sai rất nhỏ và chu kỳ sản xuất khoảng 4-8 ngày/cấu kiện. Quan trọng hơn, hệ thống này phải được tổ chức trên bốn trụ cột: vật liệu, quy trình sản xuất - thi công, kiểm soát dung sai, kiểm định chất lượng.

Đây là một chỉ dấu rất quan trọng về bản chất của giai đoạn phát triển tiếp theo. Bởi, một cấu kiện nặng 800-850 tấn không thể được hiểu như một phiên bản lớn hơn của dầm bê tông thông thường. Đằng sau nó là một hệ thống vật liệu đủ ổn định, dây chuyền đủ đồng bộ, khuôn mẫu đủ chính xác, quy trình kiểm soát sai số đủ chặt, tổ chức vận chuyển - cẩu lắp đủ an toàn và hệ thống kiểm định đủ tin cậy. Nói cách khác, cái cần có không chỉ là một doanh nghiệp mạnh hay một nhà máy lớn, mà là cả một hệ thống công trình công nghiệp chính xác cao.

Chúng ta đã có năng lực ở một số khâu: có doanh nghiệp sản xuất tốt, có doanh nghiệp thi công tốt, có bước tiến nhất định ở vật liệu, có kinh nghiệm thực tế ở công trình ngầm và hạ tầng. Nhưng chúng ta chưa tích hợp được các năng lực đó thành một hệ thống vận hành chính xác cao ở cấp độ dự án lớn.

Khác biệt lớn nhất nằm ở cách tổ chức cả hệ sinh thái

Kinh nghiệm từ các chuyên gia đến từ một số đại học, doanh nghiệp ở Trung Quốc cho thấy khác biệt lớn nhất không nằm ở từng công nghệ, mà ở cách tổ chức cả hệ sinh thái precast: vật liệu - cấu kiện - công trình - tiêu chuẩn hóa thi công, được tổ chức như một hệ thống công nghiệp quy mô lớn. Trung Quốc không chỉ “dùng bê tông đúc sẵn”, mà đã biến precast thành hạ tầng công nghệ nền cho đường sắt cao tốc, công trình ngầm, hầm dìm, segment tunnel và nhiều cấu kiện kỹ thuật cao khác.

Theo GS Qiang Yuan - Đại học Trung Nam, đến cuối năm 2025, Trung Quốc đã có tổng chiều dài đường sắt vượt 165.000 km và đường sắt cao tốc vượt 50.000 km; đến năm 2030, quy mô này dự kiến tăng lên trên 180.000 km đường sắt và trên 60.000 km đường sắt cao tốc. Quy mô hạ tầng khổng lồ này đã tạo ra thị trường đủ lớn để precast phát triển theo logic sản xuất hàng loạt, tối ưu hóa và chuẩn hóa liên tục. Trong hệ thống HSR của Trung Quốc, cấu kiện đúc sẵn được sử dụng đồng bộ cho bản slab, dầm hộp 32 m, dầm hộp lắp ghép phân đoạn và tà vẹt bê tông bi-block. Điều đó cho thấy phía Trung Quốc đã vượt xa cấp độ ứng dụng rời rạc. Họ đã đưa precast vào vai trò hạ tầng nền cho cả hệ thống giao thông tốc độ cao.

Chiều sâu của năng lực này còn thể hiện ở tầng vật liệu. GS Qiang Yuan cho biết, Trung Quốc đã nghiên cứu rất sâu ảnh hưởng của dưỡng hộ hơi nước lên vi cấu trúc bê tông. Cụ thể, với dưỡng hộ tiêu chuẩn 20°C, vùng chuyển tiếp cốt liệu - hồ xi măng (ITZ) có chiều dày khoảng 30 μm; ở 60°C tăng lên 50 μm; và ở 80°C tăng lên 70 μm. Độ rỗng tại vùng ITZ giữa cốt thép và hồ xi măng tăng từ 5,73% ở 20°C lên 10,42% ở 60°C. Cường độ nén 1 ngày tăng từ 32 MPa lên 45 MPa khi nâng nhiệt dưỡng hộ từ 20°C lên 80°C, nhưng cường độ ở 90 ngày lại giảm từ 66 MPa xuống 56 MPa. Điều này cho thấy họ không còn nhìn bài toán precast ở mức “tháo khuôn nhanh”, mà đã bước sang tối ưu giữa cường độ sớm, độ bền dài hạn và tiêu hao năng lượng. Đây là dấu hiệu của một nền công nghiệp trưởng thành.

TS Yu Cheng - Công ty TNHH Vật liệu mới Sobute cho biết, công nghệ của họ giúp độ linh động ban đầu tăng hơn 1 lần, kéo dài thời gian duy trì tính công tác ở điều kiện 40°C hơn 1 lần, cho phép hỗn hợp bơm xa tới độ cao 800 m. Với cọc PHC, bê tông C80 có thể đạt cường độ tháo khuôn sau 12 giờ vượt 70 MPa mà không cần hấp áp lực; với bê tông C105, cường độ tháo khuôn sau 12 giờ vượt 100 MPa trong điều kiện tỷ lệ nước/xi măng chỉ khoảng 0,26-0,29. Điều đó cho thấy năng lực vật liệu ở đây không còn dừng ở việc “có phụ gia”, mà là thiết kế phụ gia riêng cho từng bài toán cấu kiện.

Ở mảng công trình ngầm, GS Liu Xian và GS. Yuan Yong - Trường Đại học Đồng Tế cho biết, Dự án HZM Linkage của cầu Hồng Kông - Chu Hải - Ma Cao có mặt cắt hầm dìm điển hình với chiều rộng khoảng 37,95 m, chiều cao khoảng 11,40 m, bản đáy dày 1,50 m, bản mái khoảng 1,50 m và vách ngăn giữa khoảng 0,80 m. Ở một dự án thi công hầm theo phương pháp đào mở khác, tổng chiều dài công trình khoảng 2.840 m, mặt cắt khoảng 20,2 x 6,6 m, tải trọng lên tới khoảng 121 tấn/m; một cấu kiện segment dài 45 m, rộng 2 m, chiều cao tối đa 3,75 m và trọng lượng một đốt khoảng 140 tấn. Những số liệu này cho thấy Trung Quốc đã đi tới tiền chế hóa các cấu kiện siêu lớn cho hạ tầng ngầm quy mô quốc gia…

Từ đây có thể rút ra một điểm rất rõ, Trung Quốc đã đi từ phát triển từng doanh nghiệp, từng sản phẩm sang vận hành một hệ sinh thái công nghiệp hoàn chỉnh, nơi quy mô hạ tầng tạo thị trường, thị trường kéo nghiên cứu, nghiên cứu đi vào tiêu chuẩn hóa, và tiêu chuẩn hóa lại quay trở lại thúc đẩy sản xuất hàng loạt. Trong khi đó, Việt Nam mới có những năng lực mạnh ở từng đoạn, chưa hình thành được vòng tuần hoàn công nghiệp.

Điểm nghẽn lộ rõ ở tầng tiêu chuẩn và quy chuẩn

Những số liệu này không chỉ phản ánh quy mô cấu kiện, mà còn cho thấy mức độ phụ thuộc của công nghệ vào hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật đi kèm.

Với cấu kiện dài hàng chục mét, nặng hàng trăm tấn và dung sai rất nhỏ, mọi sai lệch đều có thể dẫn đến rủi ro hệ thống. Khi đó, công nghệ không thể vận hành theo kinh nghiệm đơn lẻ, mà phải dựa vào một hệ tiêu chuẩn đủ chi tiết và đồng bộ để đảm bảo tính lặp lại ở quy mô lớn.

Nói cách khác, ở cấp độ này, tiêu chuẩn không còn là hướng dẫn, mà là điều kiện tiên quyết để triển khai công nghệ theo mô hình công nghiệp.

Việt Nam hiện có khoảng 1.572 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), trong đó khoảng 1.024 tiêu chuẩn thuộc lĩnh vực xây dựng. Con số này cho thấy Việt Nam không hề nghèo về số lượng tiêu chuẩn. Nhưng vấn đề không nằm ở số lượng mà nằm ở cấu trúc, mức độ bao phủ và khả năng dẫn dắt công nghệ của hệ thống tiêu chuẩn hiện hành.

Phần lớn các tiêu chuẩn hiện nay được xây dựng trong bối cảnh công nghệ thi công truyền thống, trong khi công nghệ mới như bê tông lắp ghép, công trình ngầm hiện đại hay đường sắt tốc độ cao lại phát triển nhanh hơn khung kỹ thuật hiện có. Điều này dẫn đến tình trạng công nghệ đi trước, tiêu chuẩn đi sau. Khi tiêu chuẩn đi sau, hệ quả không chỉ là lúng túng về quản lý, mà sâu hơn là khó hình thành mặt bằng kỹ thuật chung cho thị trường, khó kiểm soát chất lượng đồng bộ và khó nhân rộng mô hình tốt.

TS Lê Minh Long - Phó Vụ trưởng Vụ KH, CN, MT&VLXD cho biết, Bộ Xây dựng đang triển khai chương trình hoàn thiện tiêu chuẩn quy mô lớn, với định hướng đến năm 2030 sẽ xây dựng khoảng 1.251 tiêu chuẩn mới, đồng thời rà soát, sửa đổi hệ thống hiện hành theo hướng tiệm cận chuẩn quốc tế, đặc biệt là tiêu chuẩn châu Âu, cùng cơ chế chuyển tiếp song song khoảng 5 năm để tiêu chuẩn cũ và mới cùng tồn tại. Đây là hướng đi đúng và cần thiết.

Tuy nhiên, so với thực tiễn ngành Xây dựng đang diễn ra, tiến độ xây dựng và cập nhật tiêu chuẩn vẫn chậm hơn tốc độ triển khai công nghệ. Trong khi doanh nghiệp đã áp dụng bê tông lắp ghép ở nhà cao tầng, hạ tầng đô thị và công trình ngầm, thì nhiều nội dung kỹ thuật quan trọng, đặc biệt là liên kết cấu kiện, dung sai lắp ghép, thiết kế cho công trình quy mô lớn hay vật liệu thế hệ mới, vẫn chưa có tiêu chuẩn đầy đủ hoặc thống nhất.

Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chuẩn hiện nay vẫn phân tán theo từng lĩnh vực, chưa hình thành bộ tiêu chuẩn tích hợp cho các hệ công trình phức tạp như: đường sắt tốc độ cao, metro hay hạ tầng ngầm đa chức năng. Điều này khiến các dự án lớn vẫn phải tham chiếu tiêu chuẩn nước ngoài hoặc xây dựng tiêu chuẩn riêng cho từng dự án.

Ngoài ra, tiêu chuẩn hiện hành chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ vật liệu và sản xuất công nghiệp, nhất là với bê tông cường độ cao, phụ gia thế hệ mới hay cấu kiện quy mô lớn.

Vì vậy, có thể rút ra một nhận định khá rõ: Việt Nam không thiếu tiêu chuẩn, nhưng thiếu một hệ thống tiêu chuẩn đủ đồng bộ và đủ đi trước để dẫn dắt công nghệ. Trong bối cảnh công nghiệp hóa xây dựng, tiêu chuẩn không chỉ là công cụ quản lý nhà nước, mà là ngôn ngữ chung kết nối thiết kế - sản xuất - thi công, là điều kiện để chuẩn hóa chất lượng và là hạ tầng mềm để mở rộng quy mô thị trường. Khi hạ tầng mềm đó chưa đủ mạnh, các năng lực thực tế của doanh nghiệp vẫn khó kết nối với nhau thành sức mạnh hệ thống.

Xâu chuỗi toàn bộ các tham luận tại hội thảo có thể thấy bức tranh hiện nay của precast ở Việt Nam không hề nghèo nàn, không thể nói Việt Nam thiếu công nghệ hay thiếu năng lực. Tuy nhiên, các năng lực đó vẫn phát triển theo từng tuyến riêng, mức độ hoàn thiện không đồng đều, chưa gặp nhau trong một kiến trúc công nghiệp chung. Khoảng trống hiện nay nằm ở sự thiếu liên kết giữa thiết kế, tiêu chuẩn, sản xuất, thi công, kiểm định và thị trường.

Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề không còn là có hay không precast, mà là liệu công nghệ này có được nâng lên thành phương thức chủ đạo, đủ sức dẫn dắt năng suất, tiêu chuẩn hóa và công nghiệp hóa ngành Xây dựng trong giai đoạn tới.

Bình luận
Nhà ở xã hội SUNRISE HOME Ngọc Hồi Công ty Xe đạp Thống Nhất
  • Dự án Monrei Saigon Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam