Chiều 5/8, thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV của Luật Đầu tư, các đại biểu Quốc hội tập trung vào ba vấn đề: việc cắt giảm có thực chất hay không; lĩnh vực nào có thể chuyển sang hậu kiểm; và điều kiện cần thiết để quản lý bằng dữ liệu thay cho giấy phép.
Cắt giảm ở danh mục nhưng điều kiện có còn trong văn bản khác?
Đại biểu Nguyễn Duy Thanh - Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau đề nghị làm rõ phương pháp tính tỷ lệ cắt giảm và lượng hóa kết quả cải cách đối với doanh nghiệp.
Theo đại biểu Nguyễn Duy Thanh, một thủ tục kéo dài vài tuần có thể ảnh hưởng đến dòng vốn, hợp đồng và cơ hội kinh doanh, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vì vậy, sau khi Luật được ban hành, Chính phủ cần công khai thủ tục nào được bãi bỏ, giấy phép nào không còn phải xin, điều kiện nào không còn phải đáp ứng, thời điểm áp dụng và cơ quan chịu trách nhiệm.
Vấn đề đại biểu Nguyễn Duy Thanh đặt ra không chỉ là có bao nhiêu ngành, nghề được đưa ra khỏi Phụ lục IV, mà là sau khi đưa ra khỏi danh mục, doanh nghiệp còn phải thực hiện những yêu cầu có nội dung tương tự hay không. Nếu giấy phép được thay bằng một loại xác nhận khác, hoặc doanh nghiệp vẫn phải cung cấp cùng một hồ sơ cho nhiều cơ quan, kết quả cắt giảm sẽ chưa thể hiện rõ trong thực tế.
Cùng đề cập nội dung này, đại biểu Đồng Ngọc Ba - Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai cho rằng, cần phân định rõ điều kiện đầu tư kinh doanh với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Theo đại biểu Đồng Ngọc Ba, điều kiện kinh doanh không chỉ tồn tại dưới hình thức giấy phép mà còn có thể là yêu cầu về cơ sở vật chất, nhân lực, vốn hoặc hình thức pháp lý của doanh nghiệp. Qua một số quy định về hành nghề đấu giá tài sản, đại lý làm thủ tục hải quan và cung ứng dịch vụ ngoại hối, đại biểu Đồng Ngọc Ba nhận thấy có trường hợp ngành, nghề được đưa ra khỏi danh mục nhưng các điều kiện tương tự vẫn còn trong luật chuyên ngành, nghị định hoặc thông tư.
Từ ý kiến của hai đại biểu đặt ra yêu cầu, phải rà soát rộng hơn Phụ lục IV. Việc xác định một điều kiện đã được cắt giảm hay chưa cần đối chiếu với toàn bộ quy định mà doanh nghiệp phải thực hiện khi gia nhập và hoạt động trên thị trường. Nếu chỉ sửa danh mục mà không xử lý các yêu cầu tương tự trong văn bản chuyên ngành, doanh nghiệp có thể chưa cảm nhận được thay đổi.
Do đó, nội dung cần tiếp tục được làm rõ là danh mục cụ thể những thủ tục được bãi bỏ và việc xử lý các điều kiện liên quan trong từng luật, nghị định, thông tư. Đây cũng là cơ sở để kiểm tra tỷ lệ cắt giảm được tính theo số ngành, nghề, số giấy phép hay số nghĩa vụ thực tế của doanh nghiệp.
Không phải lĩnh vực nào cũng có thể chỉ dựa vào hậu kiểm
Một nội dung khác được các đại biểu quan tâm là việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Đại biểu Nguyễn Trung Kiên - Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai đề nghị đặc biệt thận trọng với những ngành, nghề liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng người dân.
Dẫn trường hợp kinh doanh nước sạch và kinh doanh rượu, đại biểu Nguyễn Trung Kiên cho rằng, nếu không kiểm soát tốt có thể dẫn đến nguy cơ ngộ độc trên diện rộng. Khi hậu quả đã xảy ra thì hậu kiểm không còn nhiều ý nghĩa.
Ý kiến này cho thấy, việc chuyển sang hậu kiểm cần được xem xét riêng đối với từng ngành, nghề. Vấn đề cần làm rõ trong dự thảo là căn cứ nào được sử dụng để xác định lĩnh vực có thể bỏ tiền kiểm và lĩnh vực vẫn cần duy trì biện pháp kiểm soát từ trước khi doanh nghiệp hoạt động.
Cùng yêu cầu đánh giá kỹ rủi ro, đại biểu Võ Hoàng Ngân - Đoàn ĐBQH TP.HCM lưu ý, một số lĩnh vực dự kiến được cắt giảm điều kiện kinh doanh như: khoáng sản, tàu bay không người lái, vận tải đường ống, phát hành xuất bản phẩm và thiết bị gây nhiễu thông tin di động chưa được thuyết minh đầy đủ về lý do cắt giảm và phương án quản lý thay thế.
Theo đại biểu Võ Hoàng Ngân, các ngành, nghề liên quan đến quốc phòng, an ninh, trật tự và sức khỏe cộng đồng cần được phân tích thận trọng. Nếu cắt giảm điều kiện kinh doanh thì phải có phương án quản lý thay thế đủ hiệu lực, tránh phát sinh khoảng trống pháp lý.
Từ các ý kiến này, dự thảo cần làm rõ không chỉ điều kiện nào được bỏ mà cả công cụ nào sẽ được sử dụng sau khi bỏ. Với từng lĩnh vực, cơ quan soạn thảo cần cho thấy rủi ro hiện được kiểm soát bằng biện pháp nào, vì sao có thể thay đổi phương thức quản lý và cơ quan thực hiện đã đủ điều kiện để chuyển sang hậu kiểm hay chưa.
Đây cũng là điểm phân biệt giữa việc giảm thủ tục và giảm mức độ quản lý. Các đại biểu không phản đối cắt giảm, nhưng yêu cầu việc cắt giảm phải đi cùng phương án kiểm soát phù hợp với tính chất của từng ngành, nghề.
Quản lý đúng hoạt động có rủi ro, tránh yêu cầu lại dữ liệu
Đối với các loại hình kinh doanh mới, đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm - Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng đề nghị rà soát các nền tảng trung gian giao dịch trực tuyến trực tiếp nhận hoặc tạm giữ tiền, tài sản của người sử dụng.
Theo đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm, không nên đưa toàn bộ hoạt động thương mại điện tử vào diện kinh doanh có điều kiện, mà chỉ quản lý phần hoạt động thực sự có rủi ro và chưa được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh.
Ý kiến của đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm đặt ra yêu cầu xác định chính xác hoạt động cần quản lý. Nếu phạm vi quy định quá rộng, những doanh nghiệp không trực tiếp giữ tiền hoặc tài sản của người dùng cũng có thể phải đáp ứng điều kiện không cần thiết. Ngược lại, nếu phạm vi quá hẹp, những hoạt động có rủi ro lại có thể chưa được kiểm soát.
Vì vậy, nội dung cần tiếp tục làm rõ là thế nào được coi là trực tiếp nhận hoặc tạm giữ tiền, tài sản; những hoạt động này hiện đã được điều chỉnh đến đâu; và khoảng trống nào cần được xử lý bằng điều kiện kinh doanh.
Trong khi đó, đại biểu Bùi Thanh Toàn - Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk đề nghị chuẩn hóa, số hóa toàn bộ dữ liệu về giấy phép, chứng chỉ, điều kiện kinh doanh và lịch sử tuân thủ của doanh nghiệp. Cơ quan nhà nước không nên yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại những thông tin đã có.
Theo đại biểu Bùi Thanh Toàn, việc sửa Luật chỉ thực sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp bớt phải đi lại, bớt nộp lại hồ sơ và bớt xin lại giấy phép; đồng thời Nhà nước vẫn kiểm soát được rủi ro bằng dữ liệu.
Ý kiến này liên quan trực tiếp đến khả năng thực hiện hậu kiểm. Khi dữ liệu về giấy phép, chứng chỉ và quá trình tuân thủ chưa được chuẩn hóa hoặc chia sẻ giữa các cơ quan, doanh nghiệp vẫn có thể phải cung cấp lại hồ sơ dù một số điều kiện đã được bãi bỏ.
Do đó, cùng với sửa Luật, cần làm rõ tiến độ xây dựng dữ liệu, trách nhiệm cập nhật, chia sẻ giữa các cơ quan và thời điểm có thể sử dụng dữ liệu này trong kiểm tra, giám sát doanh nghiệp.
Giải trình tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, việc rà soát, cắt giảm được thực hiện theo ba nguyên tắc: loại bỏ những ngành, nghề không thực sự cần áp dụng điều kiện kinh doanh; chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ giấy phép sang tiêu chuẩn kỹ thuật và dữ liệu số; sửa đổi hoặc bãi bỏ các điều kiện không rõ ràng, trùng lặp, không còn phù hợp hoặc đã được điều chỉnh bằng công cụ khác.
Cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện các nghị định liên quan và chuẩn bị cơ sở pháp lý, tổ chức bộ máy, nguồn lực để hậu kiểm có thể vận hành hiệu quả.
Các ý kiến tại hội trường cho thấy, phần việc còn lại không chỉ là chốt số ngành, nghề được đưa ra khỏi danh mục. Dự thảo cần trả lời cụ thể doanh nghiệp sẽ bớt những thủ tục nào, những điều kiện tương tự trong văn bản khác được xử lý ra sao, lĩnh vực nào có thể hậu kiểm và dữ liệu nào sẽ được sử dụng để quản lý sau khi bỏ giấy phép.

Việc đưa một ngành, nghề ra khỏi danh mục kinh doanh có điều kiện chưa chắc giúp doanh nghiệp bớt thủ tục. Các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ, doanh nghiệp thực sự được bỏ giấy phép nào. 

