Bộ KH&CN đang dự thảo Thông tư quy định chi tiết xây dựng, thẩm định và ban hành quy chuẩn kỹ thuật, trong đó đã thiết lập một quy trình bắt buộc và thống nhất đối với các Bộ, cơ quan ngang bộ trong xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN), nhấn mạnh vai trò điều phối của Bộ KH&CN ngay từ giai đoạn lập kế hoạch.
Định kỳ rà soát QCVN 5 năm
Theo Điều 5 của dự thảo Thông tư, hằng năm các bộ, cơ quan ngang bộ phải rà soát nhu cầu xây dựng, sửa đổi QCVN và tổng hợp thành dự thảo kế hoạch; dự thảo kế hoạch được công khai lấy ý kiến tối thiểu 20 ngày trước khi phê duyệt. Kế hoạch chỉ được phê duyệt và đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn đo lường chất lượng sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ KH&CN. Đối với QCVN mang tính liên ngành, việc xác định cơ quan chủ trì được thực hiện thông qua họp liên bộ do Bộ KH&CN tổ chức.
Khi nhiệm vụ đã nằm trong kế hoạch, quy trình xây dựng và tham vấn dự thảo QCVN được chuẩn hóa tại Điều 7. Cơ quan chủ trì phải tổ chức xây dựng dự thảo kèm thuyết minh theo Phụ lục V và công bố rộng rãi để lấy ý kiến trong tối thiểu 60 ngày.
Trường hợp dự thảo có thể ảnh hưởng thương mại quốc tế, Bộ phải gửi Văn phòng Tổng Bí thư Việt Nam xem xét nghĩa vụ thông báo WTO. Hồ sơ chỉ được trình thẩm định sau khi công khai tiếp thu, giải trình ý kiến.
Việc thẩm định được thực hiện bởi Hội đồng thẩm định theo Điều 8, bảo đảm nguyên tắc độc lập với Ban soạn thảo và chỉ được thông qua khi tối thiểu ¾ thành viên nhất trí. Nội dung thẩm định phải đánh giá đầy đủ tính thống nhất của hệ thống pháp luật, rủi ro tạo rào cản kỹ thuật và tính khả thi khi áp dụng.
Điểm mới quan trọng là trước khi ký ban hành, Bộ chủ trì phải bắt buộc lấy ý kiến chính thức Bộ KH&CN theo Điều 7. Nếu không thống nhất, hồ sơ phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định, thể hiện rõ vai trò “gác cổng kỹ thuật” quốc gia của Bộ KH&CN.
Sau ban hành, Bộ có trách nhiệm đăng ký QCVN với Bộ KH&CN để được công bố trong vòng 20 ngày trên Cơ sở dữ liệu quốc gia, đồng thời tự tổ chức phổ biến và hướng dẫn áp dụng. Công tác giám sát việc tuân thủ quy trình, thể thức ban hành và hiệu quả áp dụng được giao cho Bộ KH&CN và Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia theo Điều 14.
Đáng chú ý, Điều 10 quy định trách nhiệm rà soát QCVN định kỳ 5 năm, phân loại theo hướng giữ nguyên, sửa đổi hoặc bãi bỏ, gắn chặt với quy trình lập kế hoạch và đăng ký lại. Quy định này giúp bảo đảm QCVN luôn phù hợp thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Cho phép áp dụng thủ tục điều chỉnh kế hoạch rút gọn
Bên cạnh quy trình chung về lập kế hoạch, xây dựng, thẩm định và ban hành quy chuẩn kỹ thuật, dự thảo Thông tư của Bộ KH&CN cũng thiết kế các cơ chế đặc thù nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong những tình huống có tính chất khẩn cấp, liên quan đến bí mật nhà nước hoặc đòi hỏi rút ngắn thời gian xử lý.
Đối với QCVN liên quan đến bí mật nhà nước, dự thảo Thông tư quy định không thực hiện các bước công khai lấy ý kiến, đăng tải hồ sơ và tham vấn rộng rãi; toàn bộ quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và chỉ áp dụng những yêu cầu nghiệp vụ phù hợp với mục tiêu bảo mật.
Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 11 khẳng định, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ đối với các QCVN bí mật tiếp tục áp dụng cơ chế riêng tương tự. Như vậy, đối với nhóm quy chuẩn này, dự thảo Thông tư nhấn mạnh nguyên tắc ưu tiên tuyệt đối bảo mật, linh hoạt quy trình và hạn chế công khai.
Ngoài ra, dự thảo Thông tư cho phép áp dụng thủ tục điều chỉnh kế hoạch rút gọn trong trường hợp quản lý khẩn cấp. Tại điểm đ khoản 2 Điều 5, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ được quyền quyết định điều chỉnh, bổ sung kế hoạch xây dựng QCVN mà không phải tuân thủ đầy đủ quy trình thông thường, khi phát sinh yêu cầu cấp thiết.
Cơ chế tương tự áp dụng tại các địa phương theo điểm c khoản 2 Điều 6, cho phép Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố rút ngắn quy trình điều chỉnh kế hoạch xây dựng QCĐP để đáp ứng tình huống quản lý đột xuất. Khoản 3 ĐIều 6 cho phép các Bộ, cơ quan ngang Bộ đề xuất điều chỉnh, bổ sung kế hoạch xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mang tính liên ngành. Đây là cơ sở pháp lý tạo độ mềm cho hoạt động xây dựng quy chuẩn, đặc biệt trong bối cảnh sự cố về an toàn, môi trường hoặc thương mại quốc tế có thể phát sinh nhanh, đòi hỏi phản ứng kịp thời.
Một nhóm đặc thù quan trọng khác là trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật. Khoản 9 Điều 7 cho phép áp dụng trình tự rút gọn đối với QCVN trong các trường hợp đáp ứng điều kiện theo Điều 29 của Nghị định. Dù rút gọn, các bước thẩm định vẫn phải thực hiện thông qua Hội đồng thẩm định theo Điều 8, bảo đảm chất lượng đánh giá.
Đối với quy chuẩn kỹ thuật địa phương, khoản 8 Điều 9 quy định cơ chế tương tự: UBND tỉnh, thành phố được phép áp dụng trình tự rút gọn khi có yêu cầu cấp bách về quản lý. Đồng thời, khoản 3 Điều 11 tiếp tục trao thẩm quyền cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố được bãi bỏ quy chuẩn kỹ thuật theo thủ tục rút gọn nếu xuất hiện yêu cầu quản lý nhà nước đặc biệt cấp thiết, miễn là bảo đảm cơ sở khoa học và tính khả thi…
Theo các chuyên gia, đối với các quy chuẩn kỹ thuật của lĩnh vực đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, theo dự thảo Thông tư, chỉ những quy chuẩn kỹ thuật thuộc danh mục bí mật nhà nước mới được miễn trừ các bước công khai hồ sơ và tham vấn rộng rãi; quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Do vậy, các QCVN trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị chỉ được áp dụng cơ chế đặc thù khi có quyết định phân loại bí mật nhà nước; các nội dung còn lại vẫn phải tuân thủ đầy đủ quy trình chung.

Theo dự thảo Thông tư, Bộ KH&CN trở thành đầu mối điều phối toàn bộ lộ trình xây dựng quy chuẩn, từ phê duyệt kế hoạch thường niên, cho ý kiến bắt buộc đến theo dõi kết quả áp dụng và rà soát chu kỳ 5 năm. 

