Sáng 15/5, tại Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Trần Hồng Minh chủ trì cuộc họp với các đơn vị quản lý, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp về định hướng triển khai nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC).
Cuộc họp được tổ chức sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược; Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 06/5/2026 giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược gắn với các bài toán lớn. Theo định hướng của Bộ Xây dựng, lĩnh vực trọng tâm là “Công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị”, với sản phẩm công nghệ chiến lược là “công trình xây dựng đường sắt tốc độ cao”.
Thành phần tham dự cuộc họp, bên cạnh các đơn vị thuộc Bộ, còn có sự tham gia của: Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, Viettel, Hòa Phát, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, TEDI, TRICC, CIC, Hanoi Metro, các trường đại học, viện nghiên cứu và các cục chuyên ngành.
Từng bước làm chủ công nghệ đường sắt tốc độ cao
Phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp, Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh, nhiệm vụ nghiên cứu KHCN của ngành Xây dựng phải mang tính đột phá, tạo ra các sản phẩm công nghệ chiến lược; nếu không sẽ chỉ dừng ở mức ứng dụng và đổi mới sáng tạo thông thường.
Theo Bộ trưởng, các nhiệm vụ liên quan đến công nghệ chiến lược ĐSTĐC đều là vấn đề mới, phức tạp, yêu cầu kỹ thuật cao và lần đầu tiên được nghiên cứu, triển khai trong điều kiện thực tiễn tại Việt Nam. Vì vậy, cần nghiên cứu bài bản, chuyên sâu, với quyết tâm làm chủ công nghệ.
Bộ trưởng yêu cầu nghiên cứu từ công nghệ nền, công nghệ lõi đến công nghệ phụ trợ; hướng tới tạo ra sản phẩm công nghệ tương đương các nước phát triển như: Trung Quốc, Nhật Bản, châu Âu; đồng thời đổi mới tư duy, mạnh dạn nghiên cứu, quyết tâm tự làm, phát triển sản phẩm khoa học mang thương hiệu quốc gia, thương hiệu Việt Nam và có khả năng ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn.
Yêu cầu này đặt ĐSTĐC vào đúng bản chất của một bài toán công nghệ chiến lược. Nếu chỉ tiếp cận theo hướng: mua công nghệ, thuê tư vấn, thuê nhà thầu và tiếp nhận thụ động giải pháp kỹ thuật từ bên ngoài, Việt Nam có thể xây dựng được tuyến đường sắt hiện đại, nhưng khó hình thành năng lực dài hạn để tự thiết kế, tự thi công, tự kiểm định, tự vận hành và tự bảo trì hệ thống.
Mục tiêu được Bộ Xây dựng xác định là từng bước làm chủ công nghệ xây dựng hạ tầng ĐSTĐC, đường sắt điện khí hóa tại Việt Nam, từ khảo sát, thiết kế, thi công đến sản xuất cấu kiện; phù hợp điều kiện địa chất, khí hậu và năng lực công nghiệp trong nước; hình thành năng lực tự xây dựng, bảo trì, sửa chữa công trình đường sắt; giảm phụ thuộc vào công nghệ, tư vấn và nhà thầu nước ngoài.
Báo cáo của Vụ KHCN, MT & VLXD nhìn nhận, Việt Nam đã có kinh nghiệm triển khai nhiều công trình hạ tầng quy mô lớn như cầu dây văng, cầu nhịp lớn, hầm xuyên núi và đường cao tốc. Nhiều doanh nghiệp trong nước đã tích lũy năng lực thi công công trình phức tạp trong điều kiện địa hình, địa chất khó khăn.
Tuy nhiên, đối với ĐSTĐC, năng lực hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành chưa đầy đủ; Việt Nam chưa có kinh nghiệm thực tiễn trong khảo sát, thiết kế, thi công và vận hành công trình ĐSTĐC; công nghệ đường không ballast chưa được triển khai trong thực tế; hệ thống phòng thí nghiệm chưa đủ năng lực thử nghiệm quy mô lớn, phức tạp; nguồn nhân lực chuyên sâu còn thiếu, nhất là ở các khâu thiết kế, kiểm định và vận hành hệ thống.
Những khoảng trống này cho thấy tự chủ công nghệ đường sắt tốc độ cao không thể chỉ đặt ở khâu thi công. Năng lực cần hình thành phải bao trùm cả chuỗi: tiêu chuẩn, khảo sát, thiết kế, vật liệu, cấu kiện, thiết bị, thi công, thử nghiệm, kiểm định, vận hành, bảo trì, dữ liệu và phần mềm.
Phòng thí nghiệm trọng điểm có vai trò đặc biệt quan trọng
Theo dự thảo định hướng, Bộ Xây dựng dự kiến triển khai các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược trong giai đoạn 2026-2030, tập trung vào hai nhóm lớn: công nghệ xây dựng ĐSTĐC; và thiết bị, công nghệ phục vụ hệ thống ĐSTĐC, đường sắt điện khí hóa, đường sắt đô thị.
Về công nghệ xây dựng, các nhiệm vụ gồm: nghiên cứu cơ chế chính sách; hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; làm chủ khảo sát, thiết kế công trình cầu, hầm, đường sắt, nhà ga, depot; sản xuất cấu kiện, kết cấu quy mô lớn; làm chủ công nghệ thi công; xây dựng năng lực thí nghiệm, thử nghiệm, kiểm định; quản lý, vận hành, khai thác; đào tạo nhân lực.
Về thiết bị, công nghệ, các nội dung được đặt ra gồm: phương tiện, đầu máy, toa xe; hệ thống thông tin, tín hiệu; điện, sức kéo; hệ thống điều khiển OCC và bán vé. Đây là nhóm nhiệm vụ có tính liên Bộ, liên ngành, cần sự tham gia của doanh nghiệp công nghệ và có liên quan đến an ninh, quốc phòng.
Trên cơ sở đó, Bộ Xây dựng dự kiến 9 nhiệm vụ nghiên cứu KHCN cụ thể cho ĐSTĐC, gồm: (i) nghiên cứu công nghệ khảo sát, thiết kế công trình; (ii) nghiên cứu thiết kế, chế tạo thử nghiệm, sản xuất tấm bản không đá ballast; (iii) nghiên cứu chế tạo, sản xuất ray; (iv) nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống điện động lực; (v) nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống thông tin, tín hiệu và tích hợp hệ điều hành đoàn tàu tốc độ cao; (vi) nghiên cứu công nghệ thẻ vé tự động; (vii) nghiên cứu thiết kế, chế tạo vật tư, thiết bị, phụ tùng phục vụ bảo trì phương tiện; (viii) nghiên cứu vật liệu, cấu kiện đúc sẵn, thiết bị vận chuyển, lao lắp, thi công công trình; (ix) và nghiên cứu xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công trình và hệ thống ĐSTĐC.
Đây là chuỗi năng lực cần được hình thành đồng bộ. Trong đó, phòng thí nghiệm trọng điểm có vai trò đặc biệt quan trọng, nhằm thực hiện các thử nghiệm phức tạp về kết cấu công trình, phương tiện, thiết bị, hệ thống điện, sức kéo, thông tin tín hiệu và tương tác động lực học giữa cầu - tàu - đường trong điều kiện mô phỏng vận hành thực tế.
Doanh nghiệp là trung tâm nội địa hóa công nghệ
Quan điểm xây dựng chương trình được Bộ Xây dựng xác định lấy doanh nghiệp làm trung tâm nội địa hóa công nghệ; Nhà nước giữ vai trò điều phối, kiến tạo, đặt hàng; viện, trường tham gia nghiên cứu, đào tạo, xác thực công nghệ; doanh nghiệp tổ chức triển khai, sản xuất và công nghiệp hóa.
Tại cuộc họp, Bộ trưởng Trần Hồng Minh yêu cầu giao nhiệm vụ chủ trì và phối hợp thực hiện các đề tài cho các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong, ngoài ngành Xây dựng như: Đại học Giao thông Vận tải, Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải, Đại học Giao thông Vận tải TP.HCM, Đại học Xây dựng Hà Nội, Đại học Kiến trúc Hà Nội, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Viettel, Hòa Phát và các đơn vị liên quan.
Bộ trưởng cũng yêu cầu các đơn vị được giao nhiệm vụ xây dựng đề tài nghiên cứu khoa học cụ thể, lập đề cương sơ bộ, dự toán kinh phí, thành lập tổ nghiên cứu và xác định rõ tiến độ triển khai để gửi Bộ Xây dựng tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền. Bộ Xây dựng sẽ thành lập Hội đồng khoa học để kiểm duyệt, thẩm định đề tài, kiểm tra tiến độ và nghiệm thu từng phần cũng như toàn bộ nhiệm vụ.
Cách triển khai được Bộ Xây dựng đặt ra cho thấy nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược đường sắt tốc độ cao cần có trọng tâm, đầu mối và sản phẩm đầu ra cụ thể. Mỗi nhiệm vụ nghiên cứu phải xác định rõ đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, tiến độ, dự toán kinh phí và cơ chế thẩm định, nghiệm thu.
Từ đó yêu cầu đặt ra là từng bước hình thành năng lực trong nước ở các khâu: tiêu chuẩn, khảo sát, thiết kế, thi công, thử nghiệm, kiểm định, vận hành và bảo trì. Kết quả của chương trình cần được đánh giá bằng khả năng ứng dụng vào thực tiễn và năng lực được tích lũy trong nước.

Từ tiêu chuẩn, khảo sát, thiết kế, thi công đến ray, slab track, thông tin tín hiệu và phòng thí nghiệm trọng điểm, Bộ Xây dựng đặt mục tiêu từng bước làm chủ công nghệ đường sắt tốc độ cao, giảm phụ thuộc vào tư vấn, công nghệ và nhà thầu nước ngoài. 

