Theo đó, tại Điều 5 (Quy định chung), Thông tư số 52 quy định: Người khai thác cảng hàng không ban hành quy chế an toàn tại cảng hàng không, bao gồm các nội dung cụ thể về an toàn khai thác và các trình tự thực hiện, phối hợp giữa các đơn vị hoạt động thường xuyên tại cảng hàng không trong việc thực hiện các yêu cầu về an toàn khai thác tại cảng hàng không.
Người khai thác cảng hàng không giám sát việc tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn hàng không tại sân bay; phát hiện các vụ việc vi phạm và chuyển thông tin vụ việc đến cơ quan quản lý nhà nước hoạt động tại cảng hàng không để xử lý theo thẩm quyền.
Người khai thác cảng hàng không quyết định điều chỉnh thời gian khai thác cảng hàng không so với thời gian đã công bố trong các trường hợp đột xuất sau:
Sự cố kỹ thuật tàu bay; Thời tiết xấu; Có chuyến bay phục vụ mục đích quân sự, an ninh, chuyên cơ, chuyên khoang khai thác ngoài thời gian khai thác cảng hàng không đã công bố;
Thay đổi thời gian khai thác của chuyến bay thương mại do có hoạt động phục vụ mục đích quân sự, an ninh, chuyên cơ, chuyên khoang.
Ngoài các trường hợp được quy định nêu trên, người khai thác cảng hàng không phải thực hiện quy trình tu chỉnh Tài liệu khai thác sân bay khi điều chỉnh thời gian khai thác cảng hàng không.
Người khai thác cảng hàng không có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ sở cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay, các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp hoạt động tại cảng hàng không và các cơ quan, đơn vị liên quan trực tiếp đến quy trình phục vụ chuyến bay tại cảng hàng không để xây dựng quy trình phục vụ các chuyến bay đi, đến trong các trường hợp đột xuất được quy định như đã nêu ở trên. Quy trình phục vụ được thể hiện trong tài liệu khai thác sân bay và phải xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc phối hợp, đánh giá đủ điều kiện bảo đảm an toàn khai thác và quyết định phục vụ chuyến bay.
Về khoảng cách an toàn đối với tàu bay đang di chuyển, Điều 19 Thông tư số 52 quy định: Người, phương tiện, trang thiết bị không được di chuyển cắt ngang đường lăn khi có tàu bay đang di chuyển, phải giữ khoảng cách an toàn tối thiểu là 125 m phía sau tàu bay và 200 m phía trước tàu bay đang di chuyển. Khi có tàu bay chuyên cơ, chuyên khoang hoạt động trên đường lăn, vệt lăn vào vị trí đỗ tàu bay, người, phương tiện và các tàu bay khác phải bảo đảm khoảng cách an toàn theo quy định về công tác bảo đảm chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang.
Khi tàu bay đang di chuyển hoặc kéo vào hoặc được đẩy lùi ra khỏi vị trí đỗ, tất cả nhân viên, phương tiện, trang thiết bị mặt đất phải di chuyển ra ngoài vạch giới hạn an toàn vị trí đỗ tàu bay, ngoại trừ nhân viên đánh tín hiệu và nhân viên, phương tiện, thiết bị tham gia phục vụ kéo, đẩy tàu bay vào hoặc ra khỏi vị trí đỗ tàu bay.
Trong khi đó, về khoảng cách an toàn đối với tàu bay đang đỗ, Điều 20 Thông tư số 52 quy định:
Đối với tàu bay phản lực code C (A320, A321 hoặc tương đương): người, phương tiện, thiết bị phải giữ khoảng cách an toàn với bán kính tối thiểu là 06 m phía trước và 60 m phía sau động cơ tàu bay đang hoạt động ở chế độ không tải.
Đối với tàu bay phản lực code D, E, F (B767, A330, A350, B787 và B747-8, B777-9, A380 hoặc tương đương): người, phương tiện, thiết bị phải giữ khoảng cách an toàn với bán kính tối thiểu là 08 m phía trước và 80 m phía sau động cơ tàu bay đang hoạt động ở chế độ không tải.
Đối với tàu bay cánh quạt và phản lực khu vực (tàu bay tương đương code A, B): người, phương tiện, thiết bị phải giữ khoảng cách an toàn với bán kính tối thiểu là 04 m phía trước và 40 m phía sau động cơ tàu bay đang hoạt động ở chế độ không tải.
Đối với tàu bay trực thăng: người và phương tiện phục vụ tàu bay phải đứng ngoài vạch giới hạn vị trí đỗ để bảo đảm an toàn đến khi cánh quạt của tàu bay trực thăng đã dừng hẳn mới được tiếp cận vị trí đỗ tàu bay để khai thác.

Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư số 52/2026/TT-BXD (có hiệu lực thi hành từ 01/7/2026) Hướng dẫn về cảng hàng không và bãi cất, hạ cánh, trong đó có nhiều nội dung quan trọng. 

