Công trình xanh

Cách nào tính toán phát thải khí nhà kính ngành Xây dựng?

Cách nào tính toán phát thải khí nhà kính ngành Xây dựng?

Thanh Nga Thanh Nga - 07:00, 10/01/2024

Tạp chí Xây dựng - Bộ xây dựngDanh mục các cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính đang được dự thảo cập nhật đến lần thứ 2. Tuy nhiên, không ít ý kiến vẫn còn băn khoăn về phương pháp kiểm kê khí nhà kính, tính toán phát thải khí nhà kính trong ngành Xây dựng.

Cập nhật mới danh mục cơ sở phải kiểm kê khí nhà kính

Luật Bảo vệ môi trường 2020, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022, quy định Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính (KNK) phải thực hiện kiểm kê KNK, cập nhật 2 năm/lần trên cơ sở tỷ trọng phát thải KNK trên tổng phát thải KNK quốc gia; điều kiện và tình hình phát triển kinh tế - xã hội; tiêu thụ nhiên liệu, năng lượng/đơn vị sản phẩm, dịch vụ đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. 

Theo đó, thực hiện quy định tại Điều 91 Luật Bảo vệ môi trường 2020 về giảm nhẹ phát thải KNK, Bộ TN&MT đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 về danh mục các cơ sở phát thải KNK phải thực hiện KKKNK, trong đó ngành Xây dựng có tổng số 104 cơ sở phải kiểm kê KNK.

Sau 2 năm thực hiện Quyết định số 01/2022/NĐ-CP, Bộ TN&MT đang dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải KNK phải thực hiện kiểm kê KNK cập nhật. Trong đó, ngành Xây dựng dự kiến có tổng số 140 cơ sở, tăng 36 cơ sở so với danh mục ban hành năm 2022.

Trung tâm thương mại Aeon Mall Bình Dương Canary tiêu thụ 3.247 TOE. Ảnh minh họa. Nguồn: ITN.

So sánh danh mục các đơn vị phải thực hiện kiểm kê KNK với dự thảo danh mục cập nhật có sự thay đổi nhất định về số lượng đơn vị cũng như mức độ tiêu thụ năng lượng tổng cộng trong một năm quy đổi ra dầu (TOE)... Từ đó, cũng đặt ra những vấn đề còn nhiều băn khoăn liên quan đến phương pháp kiểm kê KNK, cách tính phát thải KNK trong ngành Xây dựng.

Ví dụ, tại tỉnh Bình Dương, danh mục ban hành năm 2022 chỉ có duy nhất Trung tâm thương mại Aeon Mall Bình Dương Canary phải thực hiện kiểm kê KNK. Tuy nhiên, theo dự thảo danh mục cập nhật, có thêm 2 công trình là tòa nhà Trung tâm Hành chính tỉnh Bình Dương và Công ty TNHH Aeon Việt Nam - Chi nhánh Bình Dương.

Trong khi đó, tại TP.HCM, danh mục ban hành năm 2022 có tới 24 công trình là trung tâm thương mại phải thực hiện kiểm kê KNK. Đến nay, theo dự thảo danh mục cập nhật, 24 công trình này không còn nằm trong danh sách phải thực hiện kiểm kê KNK, mà xuất hiện 3 doanh nghiệp sản xuất xi măng, VLXD…

Bên cạnh đó, so với danh mục theo Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg, dự thảo danh mục cập nhật do Bộ TN&MT đang thực hiện cho thấy, TOE của các nhà máy, trung tâm thương mại thuộc ngành Xây dựng có đơn vị cao hơn, có đơn vị vẫn giữ nguyên.

Ví dụ, đối với Nhà máy Xi măng Kiên Lương thuộc Công ty CP Xi măng Vicem Hà Tiên 1, tăng từ 234.093 TOE lên 241.384 TOE; Nhà máy Xi măng Insee thuộc Công ty TNHH Siam City Cement (Việt Nam), tăng từ 144.658 TOE lên 148.623 TOE…

Hay tại các tỉnh Sơn La hoặc Yên Bái, TOE của các nhà máy xi măng đều tăng. Công ty CP Xi măng Mai Sơn tăng từ 9.966 TOE lên 36.246 TOE; Nhà máy Xi măng Yên Bái thuộc Công ty CP Xi măng và Khoáng sản Yên Bái tăng từ 12.661 TOE lên 56.637,344 TOE; Nhà máy Xi măng Yên Bình thuộc Công ty CP Xi măng Yên Bình tăng từ 27.398 TOE lên 66.098,23 TOE.

Trong khi đó, cùng nằm trong khu vực Tây Bắc Bộ, như tỉnh Hòa Bình, TOE của các đơn vị đều không tăng so với dự thảo danh mục cập nhật mới: Nhà máy Xi măng Trung Sơn thuộc Công ty CP Xây dựng và Du lịch Bình Minh, Nhà máy Xi măng X18 thuộc Công ty CP Xi măng X18 và Nhà máy Xi măng Vĩnh Sơn thuộc Công ty TNHH Xi măng Vĩnh Sơn có TOE lần lượt là 92.256 TOE, 40.610 TOE và 43.448 TOE…

Kiểm kê khí nhà kính ngành Xây dựng chịu tác động bởi yếu tố nào?

Thực tế thị trường xây dựng Việt Nam hiện nay cho thấy, sự thay đổi tăng/giảm về số lượng công trình phải thực hiện KNK, hay số lượng TOE tăng/giảm sau 2 hay nhiều năm là điều dễ hiểu, khi hoạt động sản xuất của doanh nghiệp thay đổi dẫn đến mức độ tiêu thụ năng lượng thay đổi, doanh nghiệp hướng đến Net Zero nên đã thực hiện cải tạo công trình để sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng hơn dẫn đến mức độ tiêu thụ năng lượng giảm...

Tuy nhiên, cũng liên quan đến vấn đề kiểm kê KNK của các doanh nghiệp ngành Xây dựng, tại Hội thảo Xu hướng phát triển vật liệu xanh tại Việt Nam do Khoa Vật liệu xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội phối hợp với Công ty CP Tư vấn đầu tư và xây dựng Đất Việt (Vilandco) tổ chức tháng 12/2023, một số ý kiến khách mời đặt câu hỏi thảo luận, việc tính toán phát thải KNK ngành Xây dựng chịu tác động bởi yếu tố nào? Rào cản nào cho ngành Xây dựng trên đường tiến tới Net Zero?

Ông Nguyễn Thanh Dũng - Trưởng phòng Phát triển bền vững Công ty Xi măng INSEE Việt Nam nêu quan điểm, đối với ngành Xây dựng, để thực hiện Net Zero cũng như thống kê các tác hại của phát thải KNK là rất khó, vì nguồn vật liệu đầu vào cho các công trình đang thiếu dữ liệu khá nhiều.

Bên cạnh đó, cũng cần đặt ra vấn đề, các nhà sản xuất VLXD có sẵn lòng công khai, phổ biến số liệu của phát thải của doanh nghiệp, để từ đó có cơ sở cho đơn vị tư vấn thiết kế công trình tập hợp, tính toán lượng phát thải của công trình xây dựng, ngành Xây dựng?

Ông Nguyễn Thanh Dũng băn khoăn không hiểu, những vướng mắc này xuất phát từ đâu, do doanh nghiệp ngại chia sẻ dữ liệu, do doanh nghiệp chưa tiếp cận được phương pháp tính toán phát thải hay do chưa có sự chỉ dẫn phương pháp tính toán phát thải?

Theo ông Nguyễn Thanh Dũng, có lẽ phải chờ một thời gian để doanh nghiệp ngành Xây dựng Việt Nam tiếp cận được phương pháp tính toán phát thải, khi đó mới có đầy đủ số liệu để thống kê.

Đánh giá về tính khả thi của việc ngành Xây dựng đạt Net Zero, ông Nguyễn Thanh Dũng cho biết, nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đã có ý thức phát triển, tuân thủ và thực thi những chính sách về giảm phát thải KNK, giảm CO2. Ở một số doanh nghiệp đã có nhiều thành công về vấn đề này nhưng chưa công bố.

Như vậy, có thể thấy, vấn đề đặt ra là các Bộ, ngành và cơ quan liên quan làm cách nào để thúc đẩy việc chia sẻ và phổ biến nhiều hơn các nội dung liên quan đến phát thải trong quá trình hoạt động, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, công trình xây dựng...

Ý kiến của bạn