Bộ Xây dựng đang xây dựng dự thảo Luật Xây dựng thay thế Luật Xây dựng năm 2014, dự kiến trình Quốc hội trong thời gian tới. Theo định hướng, dự thảo Luật lần này sửa đổi, điều chỉnh 141/168 điều, sắp xếp lại thành 8 chương với 96 điều, tập trung vào 4 nhóm vấn đề lớn: (i) đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả quản trị trong đầu tư xây dựng; (ii) cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh; (iii) phân cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương gắn với trách nhiệm giải trình; (iv) chỉ quy định những nguyên tắc khung, giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết.
Những nội dung sửa đổi thể hiện quyết tâm hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản lý, đồng thời tạo thuận lợi tối đa cho các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng, bảo đảm minh bạch, công bằng và phù hợp thông lệ quốc tế.
Phân loại dự án theo hình thức đầu tư
Một chuyển dịch phương pháp luận quan trọng của dự thảo Luật là phân loại dự án theo hình thức đầu tư thay vì nguồn vốn. Dự án đầu tư xây dựng được chia thành 3 nhóm: dự án đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức PPP và dự án đầu tư kinh doanh. Cách tiếp cận này bảo đảm thống nhất với Luật Đầu tư công, Luật PPP, Luật Đầu tư; hạn chế chồng chéo, giúp nhà đầu tư sớm nhận diện “đường đi” pháp lý, đồng thời tạo mặt bằng quản trị tương thích giữa các loại vốn.
Đối với dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi không thuộc phạm vi Luật Đầu tư công, dự thảo Luật quy định quản lý tương tự dự án đầu tư công nhằm bảo đảm kỷ luật ngân sách, tính công khai và trách nhiệm giải trình. Các dự án không thuộc 2 khung trên được quản lý như dự án đầu tư kinh doanh theo quy định của Luật Xây dựng.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật tinh gọn mô hình quản lý dự án từ 6 hình thức xuống còn 2 hình thức: (1) BQLDA đầu tư xây dựng chuyên trách; (2) Chủ đầu tư tự tổ chức quản lý dự án. Việc rút gọn tầng nấc trung gian giúp nâng độ linh hoạt, rõ hóa trách nhiệm, giảm chi phí quản lý, phù hợp với yêu cầu đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị và thực thi dự án.
Một điểm đột phá khác là cho phép áp dụng thiết kế kỹ thuật tổng thể (FEED) hoặc thiết kế kỹ thuật thay thế cho thiết kế cơ sở trong Báo cáo nghiên cứu khả thi. Đây là thực tiễn đã diễn ra ở nhiều dự án năng lượng, hạ tầng phức tạp (EPC/Turnkey), nay được luật hóa nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị, tăng tính tương thích với thông lệ quốc tế, đồng thời tạo điều kiện tận dụng thiết kế đặc thù công nghệ cao.
Dự thảo Luật đã chỉnh sửa hệ thống quản lý chi phí đầu tư xây dựng, nhấn mạnh tính chính xác, minh bạch và bám sát thực tế thị trường. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa và làm rõ nội hàm và phạm vi áp dụng như: sơ bộ tổng mức đầu tư, tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng. Quy định nêu rõ nguyên tắc xác định chi phí gắn với từng giai đoạn thiết kế, làm cơ sở kiểm soát rủi ro đội vốn ngay từ tiền khả thi đến khi phê duyệt dự án và triển khai.
Cùng với đó, dự thảo Luật bổ sung cơ chế điều chỉnh tổng mức đầu tư đồng bộ với điều chỉnh chủ trương đầu tư và điều chỉnh dự án, bảo đảm kỷ luật tài chính, tránh “xé lẻ” thủ tục. Đối với dự án chia thành nhiều dự án thành phần, nguyên tắc xác định chi phí và phương thức điều chỉnh được thiết kế giúp bám sát thực tế tổ chức thi công theo pha, phù hợp mô hình đầu tư hiện đại.
Trụ cột then chốt là công cụ định mức, giá xây dựng. Thay vì “áp cứng”, dự thảo Luật chuyển sang cơ chế tham chiếu linh hoạt, cập nhật theo thị trường và đồng bộ với Luật chuyên ngành (đấu thầu, đường sắt, PPP…). Việc sử dụng, tham khảo hệ thống định mức, đơn giá được quy định theo hướng mở, trao quyền kỹ thuật nhiều hơn cho chủ thể có năng lực, đồng thời vẫn bảo đảm chuẩn mực quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư công.
Làm rõ nghĩa vụ bảo đảm thực hiện hợp đồng
Trên nền quản trị chi phí, dự thảo Luật Xây dựng (sửa đổi) tăng cường khung pháp lý về hợp đồng xây dựng theo hướng minh bạch, công bằng, khả thi. Các quy định mới được thiết kế bảo đảm tính thống nhất với Bộ luật Dân sự, Luật Đấu thầu và các luật liên quan, đồng thời phản ánh thông lệ quản lý rủi ro hiện đại.
Trước hết, nghĩa vụ bảo đảm thực hiện hợp đồng của các bên được làm rõ. Các biện pháp như bảo lãnh, bảo hiểm, ký quỹ hay các hình thức bảo đảm khác được xác lập vị thế pháp lý rõ ràng, qua đó góp phần giảm thiểu rủi ro mất cân đối nghĩa vụ, hạn chế tình trạng một bên đơn phương gánh chịu trách nhiệm.
Tiếp đến, dự thảo Luật quy định đầy đủ về bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hoạt động xây dựng. Các sự kiện được xác định bao gồm: thiên tai nghiêm trọng (động đất, bão, lũ quét, sạt lở, sóng thần), dịch bệnh nguy hiểm được cơ quan có thẩm quyền công bố, chiến tranh, khủng bố, bạo loạn, đình công quy mô lớn ngoài tầm kiểm soát, hoặc quyết định hành chính gây đình trệ không do lỗi của các bên. Khi phát sinh, các bên được phép tạm ngừng nghĩa vụ, gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng tương ứng, thương lượng chi phí phát sinh hợp lý và phải thông báo trong thời hạn đã thỏa thuận.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật cũng cụ thể hóa các loại hợp đồng và điều kiện áp dụng, khuyến khích thiết kế các cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý như: biến động giá vật liệu, trễ tiến độ do nguyên nhân khách quan, thay đổi chính sách pháp luật. Việc chuẩn hóa điều khoản bất khả kháng giúp các bên ứng phó gián đoạn chuỗi cung ứng, thiên tai cực đoan… nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc tiết kiệm - hiệu quả - công khai.
Khung quy định này không chỉ tạo nền tảng phân chia rủi ro rõ ràng, giảm thiểu tranh chấp mà còn nâng cao tính dự báo, kỷ luật và minh bạch trong thực thi hợp đồng xây dựng.
Đưa BIM, GIS và AI vào Luật
Dự thảo đưa Mô hình thông tin công trình (BIM), Hệ thống thông tin địa lý (GIS) và Trí tuệ nhân tạo (AI) vào hệ thống pháp luật về xây dựng theo hướng định danh hóa công trình xuyên suốt vòng đời: từ quy hoạch, thẩm định, cấp phép, thi công, nghiệm thu, bàn giao đến quyết toán, vận hành. Trên nền cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, các tác nhân (cơ quan quản lý, chủ đầu tư, tư vấn, nhà thầu, đơn vị vận hành) được kết nối dữ liệu thống nhất, truy vết thay đổi minh bạch, giảm gian lận, giảm trùng lặp thủ tục, nâng hiệu quả khai thác tài sản công và tư.
Sự tích hợp số liệu quản lý xây dựng với các hệ thống liên ngành (quy hoạch, đầu tư công, đất đai, môi trường, PCCC) mở ra một hệ sinh thái quản trị số đồng bộ, từ đó rút ngắn thời gian phối hợp, chuẩn hóa biểu mẫu, thúc đẩy công bố - chia sẻ dữ liệu trong giới hạn pháp luật, tạo nền cho phân tích dự báo và hoạch định chính sách dựa trên dữ liệu.
Theo hướng cắt giảm tối đa thủ tục, dự thảo Luật quy định: người quyết định đầu tư được lựa chọn phương án thiết kế phù hợp tính chất, độ phức tạp công trình, tránh ràng buộc “một cỡ cho tất cả”. Cơ quan chuyên môn thẩm định tập trung vào an toàn kết cấu, an toàn PCCC, tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn và sự phù hợp với quy hoạch; các nội dung khác phân quyền cho chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm.
Quy trình thẩm định thiết kế rút từ 2 bước xuống 1 bước ở giai đoạn thiết kế cơ sở. Giấy phép xây dựng được miễn đối với dự án đã được cơ quan chuyên môn thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi; đối với công trình nhỏ, nhà ở riêng lẻ chưa có quy hoạch chi tiết, thủ tục cấp phép tiếp cận trực tuyến, minh bạch, có kiểm soát. Dự thảo cũng rà soát, cắt giảm đối tượng kiểm tra công tác nghiệm thu, đơn giản hóa điều kiện khởi công theo hướng trọng yếu, loại bỏ yêu cầu trùng lặp.
Đáng chú ý, so với 8 nhóm thủ tục trong Luật hiện hành, dự thảo Luật đề xuất bãi bỏ 3 nhóm: thẩm định thiết kế sau thiết kế cơ sở; cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng cho tổ chức; công nhận tổ chức xã hội nghề nghiệp đủ điều kiện cấp chứng chỉ. Phần thủ tục còn lại được tiếp tục tinh giản và giao Nghị định hướng dẫn quy định chi tiết, bảo đảm dễ áp dụng, dễ kiểm tra.
Phân cấp, phân quyền đi đôi với trách nhiệm giải trình
Xuyên suốt dự thảo Luật là nguyên tắc phân cấp, phân quyền đi đôi với trách nhiệm giải trình. Trung ương xác lập khung chuẩn, nguyên tắc, tiêu chí; địa phương được trao quyền nhiều hơn trong thẩm định, cấp phép, kiểm tra, giám sát. Mỗi quyết định hành chính phải gắn với trách nhiệm cá nhân - tổ chức, công khai căn cứ pháp lý và dữ liệu thẩm định.
Cách tiếp cận “Luật quy định khung, Chính phủ hướng dẫn chi tiết” tạo độ linh hoạt thể chế, giúp hệ thống pháp luật cập nhật nhanh các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời giảm nguy cơ “cứng hóa” những nội dung nên thuộc cấp dưới luật.
Tại cuộc họp với Lãnh đạo Chính phủ sáng 12/9, Thứ trưởng Bùi Xuân Dũng cho biết, một số nội dung của dự thảo Luật cần tiếp tục lấy ý kiến rộng rãi, trong đó nổi bật là quản lý định mức và giá xây dựng. Phương án được đề xuất theo hướng kép: (i) Bắt buộc áp dụng định mức do cơ quan nhà nước ban hành đối với dự án đầu tư công, bảo đảm kỷ luật ngân sách và tính so sánh; (ii) Cho phép tổ chức, doanh nghiệp xây dựng, điều chỉnh, vận dụng hoặc sử dụng giá xây dựng khi định mức chưa có hoặc chưa phù hợp với thực tiễn, đặc biệt với công nghệ mới, vật liệu mới, điều kiện thi công đặc thù.
Bên cạnh đó, để tăng linh hoạt tài chính, dự thảo Luật bổ sung quy định cơ quan chủ quản được điều chỉnh nội bộ vốn giữa các dự án thành phần, với điều kiện không thay đổi tổng mức đầu tư toàn dự án, mục tiêu, quy mô, tiến độ; sau điều chỉnh phải báo cáo cấp có thẩm quyền. Cơ chế này giảm thủ tục hành chính, cho phép tối ưu nguồn lực theo nhu cầu triển khai thực tế.
Dự thảo Luật Xây dựng (sửa đổi) thể hiện định hướng cải cách nhất quán: giảm thủ tục, tăng minh bạch, phân quyền có trách nhiệm, số hóa toàn diện, đặt nền tảng cho một khung pháp lý hiện đại, phù hợp thông lệ, đủ linh hoạt để theo kịp đổi thay công nghệ và thực tiễn.
Khi được hoàn thiện và thông qua, Luật mới kỳ vọng nâng hiệu lực quản lý nhà nước, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, thúc đẩy phát triển hạ tầng, công nghiệp, đô thị, đóng góp thiết thực cho mục tiêu tăng trưởng xanh, bền vững và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Với phạm vi sửa đổi 141/168 điều, dự thảo Luật Xây dựng tập trung vào 4 trụ cột: Đổi mới quản trị, cắt giảm thủ tục, phân cấp gắn trách nhiệm và số hóa. 

