Phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam:

Cần giải pháp đồng bộ về thuế, nội địa hóa và chuyển giao công nghệ

10:24 19/09/2025
Mỗi năm, ngành công nghiệp ô tô tốn gần 10 tỷ USD nhập khẩu linh kiện, trong khi sản phẩm xuất khấu yếu, manh nha… đặt ra vấn đề phải có giải pháp đồng bộ về thuế, nội địa hóa và chuyển giao công nghệ.
Cần giải pháp đồng bộ về thuế, nội địa hóa và chuyển giao công nghệ
Ảnh minh họa, nguồn: ITN.

Ngành công nghiệp ô tô đóng vai trò hết sức quan trọng đối với một đất nước có hơn 100 triệu dân như Việt Nam bởi nó tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, thúc đẩy và tác động nhiều ngành khác cùng phát triển, tạo ra hệ sinh thái thúc đẩy phát triển sản phẩm và công nghệ.

Chính sách chưa đủ mạnh để thúc đẩy nội địa hóa

Tại Tọa đàm "Nội địa hóa ngành ô tô với nền kinh tế độc lập, tự chủ", do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức, ngày 18/9, TS Nguyễn Văn Hội - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công thương - Bộ Công Thương, trong 30 năm từ khi thu hút những nhà đầu tư nước ngoài đầu tiên về ô tô, Việt Nam có những cơ chế chính sách thúc đẩy sự đầu tư nước ngoài cũng như hỗ trợ để làm sao nội địa hóa ngành công nghiệp ô tô. Rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài khi cam kết đầu tư vào Việt Nam đều có cam kết về 2 mục tiêu Việt Nam quan tâm: nội địa hóa và chuyển giao công nghệ.

Tuy nhiên, đến thời điểm này, chưa đạt được/đạt tỷ lệ không đáng kể. Mục tiêu đến năm 2020 là 40% nhưng đến nay mới là 10%, không đạt mục tiêu về tỷ lệ nội hóa cũng như chuyển giao công nghệ.

Việt Nam đã có rất nhiều ưu đãi về đất đai, vốn tín dụng, thuế và các ưu đãi tài chính đối với các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư sản xuất lắp ráp ô tô tại Việt Nam, đặc biệt có thuế nhập khẩu đối ô tô nguyên chiếc. Tuy nhiên, nhập khẩu vẫn rất lớn, năm 2024 nhập khẩu đến 172 nghìn ô tô các loại - một con số rất lớn so với các nước. Thái Lan sản xuất 2 triệu ô tô nhưng xuất khẩu 1 triệu ô tô các loại.

Chúng ta cũng đã ban hành rất nhiều cơ chế chính sách như: Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 về phát triển công nghiệp hỗ trợ, đặc biệt Nghị định này mới được hoàn thiện sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 205/2025/NĐ-CP ngày 14/7/2025, có hiệu lực từ ngày 01/9/2025, với nhiều điểm mới như: tăng cường chính sách hỗ trợ thực chất cho doanh nghiệp; bổ sung ưu đãi đào tạo nguồn nhân lực với các đối tượng cụ thể; chính thức hóa vai trò của Bộ Công Thương trong quản lý và xây dựng hệ sinh thái chính sách; trao quyền cho UBND cấp tỉnh; và thúc đẩy chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…

Trong 10 năm qua, cơ chế chính sách cũng đã đủ mạnh. Trong đó, rất nhiều lĩnh vực về công nghiệp hỗ trợ ngành công nghiệp ô tô, kể cả vấn đề khung sườn, vỏ, xăm, lốp, truyền động...

Chương trình khuyến công quốc gia cũng đã tập trung hỗ trợ các ngành công nghiệp, kể cả ngành công nghiệp nghiên cứu chế tạo hoặc các ngành công nghiệp liên quan đến bao bì như nhãn mác, kiểu dáng công nghiệp. Đặc biệt nhất phải kể đến, Việt Nam có Chương trình thương hiệu quốc gia, đã góp phần rất nhiều xây dựng những thương hiệu xe ô tô của Việt Nam.

TS Nguyễn Văn Hội khẳng định, thực sự những cơ chế chính sách là chưa đủ, chưa mạnh, chưa đủ thiết thực để thúc đẩy nội địa hóa ngành công nghiệp ô tô. Đấy là một thách thức trong thời gian tới.

Cần một giải pháp đồng bộ

Theo đánh giá của GS.TS Hoàng Văn Cường - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế quốc dân, chính sách đối với công nghiệp ô tô của chúng ta đã được bảo hộ tốt với mục đích là sản xuất tại chỗ. Còn nếu nhập khẩu ô tô thì có lẽ Việt Nam là một trong những quốc gia có thuế ô tô nhập khẩu thuộc nhóm cao nhất thế giới.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu mong muốn mặc dù chúng ta đã có sản phẩm ô tô được lắp ráp. Ô tô được sản xuất tại Việt Nam theo nghĩa lắp ráp khá nhiều với trên chục thương hiệu, đặc biệt là nhóm xe nhỏ, xe vận tải nhỏ, xe con, xe dùng cho cá nhân. Nhưng, điều băn khoăn nhất là tỷ lệ nội địa hóa của nhóm này chỉ khoảng 10%, gần như không, chưa được coi là nội địa hóa, bởi theo tiêu chuẩn thế giới, mức tối thiểu để được đánh giá về xuất xứ hàng hóa, ít nhất phải đạt 40% để đánh giá xuất xứ. Như vậy, với mức 10% không thể gắn tên sản xuất tại Việt Nam.

Trong khi đó, xe chuyên dùng, xe bus hay một số xe tải, tỷ lệ nội địa hóa lại khá cao. Có những xe lên 40%, trên 40%, 60% cũng có. Nhưng những nhóm này, số lượng nhãn hiệu, số lượng đơn vị sản xuất không nhiều, tập trung vào một số đơn vị, một số hãng.

Qua những phân tích nêu trên, GS.TS Hoàng Văn Cường cho rằng, thứ nhất, chủ trương về nội địa hóa của Việt Nam rất đúng, nhưng những công cụ để thúc đẩy nội địa hóa chưa đủ khi mới chỉ quan tâm đến yếu tố thuế, ưu đãi thuế, bảo hộ về thuế.

Thứ hai, ít nhất phải có điều kiện ràng buộc về tiến độ nội địa hóa trong thời gian nhất định, nhằm buộc các nhà sản xuất phải tính toán xem có đặt chân vào một thị trường chưa được lớn hay không. Thị trường ô tô của Việt Nam trong 30 năm qua, nhất là thị trường ô tô nhỏ, ô tô con cũng phát triển, tăng trưởng nhanh nhưng quy mô chưa lớn và lại có rất nhiều nhà đầu tư tham gia làm chia nhỏ thị phần, dẫn đến khó tập trung vào sản xuất từng linh kiện để nội địa hóa. Nếu chúng ta đưa ra những ràng buộc tỷ lệ nội địa hóa, buộc nhà sản xuất phải tính đến thị phần và bắt tay nhau chuyển dịch chuỗi sản xuất từ bên ngoài vào trong nước.

Thứ ba, cần có sự cam kết hay ràng buộc về chuyển giao công nghệ, đặc biệt là khi hiện nay chúng ta đang hướng đến thu hút các nhà đầu tư có vốn, có kinh nghiệm từ nước ngoài. Nhiều nước, mà điển hình là Trung Quốc có yêu cầu ràng buộc về chuyển giao công nghệ khá chặt chẽ, gần như là điều kiện bắt buộc, nên quá trình chuyển đổi, nội địa hóa rất nhanh.

Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Văn Hội, hầu như tất cả các nhà đầu tư nước ngoài khi vào Việt Nam đều phải cam kết nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, nhưng hiện nay không có ràng buộc pháp lý các cam kết này và hiện nay họ không đạt được, trong khi chúng ta vẫn phải tuân thủ các cam kết quốc tế song phương, đa phương đã ký kết và gia nhập.

TS Nguyễn Văn Hội đề xuất tập trung vào khoa học công nghệ bởi ngành công nghiệp ô tô là ngành công nghiệp đặc thù, rất khác so với các ngành công nghiệp khác. Ví dụ, từ những bu lông, ốc vít, không phải doanh nghiệp Việt Nam không sản xuất được mà là doanh nghiệp Việt Nam không được sản xuất vì tất cả những bu lông, ốc vít của ô tô đều liên quan đến sở hữu trí tuệ và kiểu dáng công nghiệp. Họ đã xây dựng theo chuỗi toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được nhưng khi tham gia vào chuỗi toàn cầu thì sản phẩm đã có sẵn. Muốn thay đổi, đầu tiên phải thúc đẩy đột phá khoa học công nghệ để phát triển tất cả ngành công nghiệp phụ trợ của ngành công nghiệp ô tô, từ khung vỏ, truyền động, hộp số, phần mềm điện tử,...

Bên cạnh đó, quan trọng nhất phải có tiêu chuẩn, quy chuẩn từ pin, ắc quy, trạm sạc, bulong, ốc vít... của chính chúng ta.

Bình luận
Nhà ở xã hội SUNRISE HOME Ngọc Hồi
  • Dự án Monrei Saigon Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam