Cuộc "tìm người" hy hữu và sự chuyển giao thế hệ
Trong sự nghiệp của mình, Tướng Đồng Sỹ Nguyên từng tâm đắc về hai cuộc tìm người lịch sử, cuộc thứ nhất là tìm hài cốt liệt sĩ quy tập về nghĩa trang Đồi Bến Tắt (Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn) và cuộc thứ hai là tìm người kế nhiệm có đủ tâm, đủ tầm để trao gửi tương lai ngành GTVT thời bình.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ GTVT (4/1982 - 6/1986) và người học trò, người kế nhiệm xuất sắc - GS. TS Bùi Danh Lưu - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ GTVT (6/1986 - 11/1996). Sự kết hợp giữa nhãn quan chiến lược quyết liệt của hai “Tư lệnh ngành” đã mở ra những bước đột phá lịch sử cho ngành GTVT nước nhà.
Cơ duyên đưa Tướng Đồng Sỹ Nguyên gặp GS. TS Bùi Danh Lưu khi ông đang là Viện phó Viện Khoa học Kỹ thuật GTVT - một trí thức trưởng thành từ thợ cầu, từng bám trụ khôi phục cầu đường dưới mưa bom bão đạn trên mặt trận đường sắt rồi bảo vệ luận án Tiến sĩ tại Tiệp Khắc. Bằng nhãn quan đặc biệt về cán bộ, Tướng Nguyên đã đưa ra một quyết định điều động hiếm thấy: Rút ông Lưu về làm Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật, rồi chỉ sau 17 ngày (tháng 10/1982) đã tin tưởng giới thiệu để giữ chức Thứ trưởng Bộ GTVT.
Ngày 21/6/1986, khi đang cùng đoàn công tác đi khảo sát thực địa tại Lai Châu, Thứ trưởng Bùi Danh Lưu nhận được tin về việc được giao trọng trách Bộ trưởng. Cả hai lần được bổ nhiệm vào vị trí Thứ trưởng và Bộ trưởng đối với GS. TS Bùi Danh Lưu đều bất ngờ, bản thân cũng không được biết trước.
Tại buổi lễ nhận bàn giao ngay sau đó, GS. TS Bùi Danh Lưu xúc động ôm chặt người anh lớn: “Tôi vô cùng xúc động và chân thành cám ơn anh Đồng Sỹ Nguyên, vị tướng Tư lệnh đường Trường Sơn và là một Bộ trưởng đầy tâm huyết... Anh đã để lại một nhiệm vụ quang vinh cho tôi và những người ở lại”.
Còn Tướng Nguyên sau này đã tâm đắc: “Một trong những thành công lớn nhất của tôi là phát hiện ra Bùi Danh Lưu để đưa ông ấy lên Thứ trưởng và sau đó lên Bộ trưởng thay tôi...”.
Bản lĩnh tự lực tự cường và kỳ tích Chương Dương
Đầu thập niên 1980, cầu Long Biên già nua oằn mình gánh cả đường sắt lẫn đường bộ, trở thành "điểm nghẽn thế kỷ" làm tê liệt giao thông Thủ đô Hà Nội. Để qua được cầu nhiều khi mất từ 4 đến 5 tiếng đồng hồ, trong khi cầu Thăng Long ở quá xa trung tâm.
Trước bài toán hóc búa giữa phương án xây cầu treo hay cầu cứng, Tân Thứ trưởng Bùi Danh Lưu đã mạnh dạn đề xuất và Bộ trưởng Đồng Sỹ Nguyên lập tức chuẩn y quyết sách táo bạo: Tự lực xây dựng ngay cầu thép vĩnh cửu Chương Dương ngay tại trung tâm Hà Nội.
Thứ trưởng Bùi Danh Lưu trực tiếp làm tổng chỉ huy công trường, còn Bộ trưởng Đồng Sỹ Nguyên thường xuyên có mặt hiện trường như một vị “đốc công” lớn, quán triệt phương châm: “Từ đánh giặc đến sản xuất, muốn thành công thì phải quyết tâm cao”. Giữa vòng vây cấm vận, hai ông chỉ đạo tận dụng từng thanh dàn thép, vật tư dư thừa, dự phòng trên cả nước để gia công, lắp ráp.
Ngày 30/6/1985, cầu Chương Dương chính thức khánh thành sau 1 năm 9 tháng (vượt tiến độ 12 tháng). Cây cầu thép quy mô lớn đầu tiên do chính bàn tay và khối óc người Việt Nam thiết kế, thi công đã phá vỡ thế tắc nghẽn, trở thành tượng đài rực rỡ của tinh thần tự lực cánh sinh.
Khơi thông dòng chảy: Tàu xi măng lưới thép và tuyến pha sông biển
Trên mặt trận đường thủy, khi đất nước cạn kiệt sắt thép ngoại nhập, Bộ trưởng Đồng Sỹ Nguyên giao Thứ trưởng Bùi Danh Lưu ứng dụng công nghệ đóng tàu vỏ xi măng lưới thép tải trọng đến 300 tấn từ nguồn vật liệu sẵn có (xi măng, cát, đá, lưới thép), kịp thời giải tỏa cơn khát vận chuyển lương thực, vật liệu xây dựng.
Đặc biệt, nhìn thấu lợi thế hơn 3.260 km bờ biển nối liền mạng lưới sông ngòi dày đặc, Tướng Nguyên chỉ đạo thành lập Xí nghiệp liên hợp Vận tải biển pha sông, đặt nền móng khai sinh tuyến vận tải pha sông biển. Phương thức phương tiện vừa len lỏi vào sâu trong nội địa lấy hàng, vừa vượt sóng hành hải ven biển đã phá vỡ sự chia cắt giữa sông và biển, tối ưu hóa chi phí vận tải suốt nhiều thập kỷ qua.
Thập kỷ đổi mới và những quyết sách cải cách của GS. TS Bùi Danh Lưu
Tiếp quản trọng trách Tư lệnh ngành suốt giai đoạn 1986 - 1996, GS. TS Bùi Danh Lưu đã ban hành Chương trình hành động 11 điểm, trong đó có một số quyết sách cải cách mang tính cách mạng như:
Tách bạch quản lý nhà nước khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh: Xóa bỏ cơ chế "vừa đá bóng vừa thổi còi", tái lập các cục chuyên ngành (Cục Đường bộ, Cục Hàng hải, Cục Đường sông, Cục Đăng kiểm...) để tập trung hoạch định thể chế, quy hoạch và an toàn; giải phóng các tổng công ty, nhà máy đóng tàu sang cơ chế tự chủ hạch toán kinh doanh.
Tư nhân hóa và xóa bỏ độc quyền vận tải đường bộ: Dũng cảm mở đường cho khối kinh tế tư nhân tham gia kinh doanh vận tải ô tô, dỡ bỏ cơ chế quan liêu phân phối, xóa tan cảnh tượng "ngăn sông cấm chợ" và giải tỏa áp lực đi lại cho người dân thời bao cấp.
Phong trào giao thông nông thôn - "Nhà nước và nhân dân cùng làm": Phát động chương trình làm đường nông thôn với cơ chế vốn 3 bên (Nhà nước - Tỉnh - Dân), xóa "trắng" đường ô tô cho gần 1.000 xã vùng sâu, vùng xa, tạo động lực phát triển kinh tế nông nghiệp.
Đề xuất cơ chế "Lấy đường nuôi đường": Khởi xướng thu phí sử dụng đường bộ bắt đầu từ cầu Chương Dương, Bắc Thăng Long - Nội Bài, tạo nguồn tài chính bền vững duy tu, sửa chữa hạ tầng trong cảnh ngân sách kiệt quệ; đồng thời đặt nền móng thí điểm các hình thức đầu tư BOT, BT…
Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và mở cửa hội nhập: Tiên phong đưa công nghệ cọc khoan nhồi (cầu Việt Trì), dầm đúc hẫng, cải tạo cầu Sài Gòn, quy hoạch cầu Mỹ Thuận; đưa hàng hải Việt Nam tiếp cận tiêu chuẩn Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) và tranh thủ nguồn vốn ODA (WB, ADB)…
Bài học cho công cuộc kiến tạo hạ tầng hôm nay
Nhìn lại chặng đường lịch sử 40 năm đổi mới, sự tiếp nối nhiệm vụ giữa Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và GS. TS Bùi Danh Lưu thực sự là một "cặp bài trùng" mẫu mực của ngành GTVT. Một người bằng nhãn quan chiến lược kiên cường của vị Tướng trận mạc đã dám mở đường, vạch lối; một người bằng tri thức khoa học mẫn tiệp kinh qua chiến trường đã thể chế hóa đường lối đổi mới vào từng công trình, chính sách cụ thể.
Hai thế hệ Bộ trưởng Đồng Sỹ Nguyên - Bùi Danh Lưu là điểm tựa tinh thần quý báu cho những người làm chính sách sau này, đó là giao thông luôn phải đi trước một bước: Hạ tầng mở đến đâu, không gian phát triển kinh tế mở ra đến đó; thể chế và chính sách phải xuất phát từ thực tiễn: Dám nghĩ, dám làm, dám tháo gỡ điểm nghẽn bằng các mô hình tổ chức phù hợp quy luật kinh tế; trọng dụng hiền tài và lấy con người làm trung tâm: Dùng đúng người, đúng việc, bám sát đời sống người lao động trực tiếp và phục vụ lợi ích của nhân dân.
Di sản ấy tiếp tục là ngọn hải đăng soi đường cho sự nghiệp phát triển hạ tầng chiến lược - từ mạng lưới đường bộ cao tốc, hệ thống cảng biển nước sâu cho đến các tuyến đường sắt tốc độ cao, đưa non sông tự tin vững bước vào kỷ nguyên hùng cường và phồn vinh.

Trong giai đoạn đất nước đối mặt với khủng hoảng kinh tế, cấm vận và hạ tầng giao thông kiệt quệ sau chiến tranh, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và GS.TS Bùi Danh Lưu đã tạo nên một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử ngành GTVT. Từ những quyết sách táo bạo như xây dựng cầu Chương Dương, phát triển vận tải pha sông biển đến hàng loạt cải cách mang tính đột phá thời kỳ đổi mới, hai thế hệ Bộ trưởng đã đặt nền móng quan trọng cho sự phát triển của giao thông Việt Nam hiện đại. 

