Kinh tế xây dựng

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7 tăng 3,9%

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7 tăng 3,9%

Ngọc Khánh Ngọc Khánh - 11:30, 30/07/2023

Tạp chí Xây dựng - Bộ xây dựngSản xuất công nghiệp tháng 7/2023 khởi sắc hơn tháng trước, ước tính tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tính chung 7 tháng năm 2023 lại giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước.

Sản xuất than cốc tăng 12,2%

Theo Tổng cục thống kê, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 7/2023 ước tính tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, so với cùng kỳ năm trước, ngành chế biến, chế tạo tăng 3,6%; ngành khai khoáng tăng 4%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,1%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,3%.

Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP 7 tháng các năm 2019-2023 so với cùng kỳ năm trước của một số ngành công nghiệp trọng điểm.

Tính chung 7 tháng năm 2023, IIP ước tính giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2022 tăng 8,6%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo giảm 1% (cùng kỳ năm 2022 tăng 9,5%), làm giảm 0,7 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 1,2%, làm giảm 0,2 điểm phần trăm.

Chỉ số sản xuất 7 tháng năm 2023 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 12,2%; khai thác quặng kim loại và sản xuất sản phẩm thuốc lá cùng tăng 8,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 7,6%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải, tái chế phế liệu tăng 7,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 6,4%.

Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 6,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 6,8%; sản xuất xe có động cơ giảm 6,2%; sản xuất trang phục giảm 5,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học và sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác cùng giảm 4,3%.

Tăng ở 49 địa phương và giảm ở 14 địa phương

Chỉ số sản xuất công nghiệp 7 tháng năm 2023 so với cùng kỳ năm trước tăng ở 49 địa phương và giảm ở 14 địa phương trên cả nước.

Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Bắc Giang tăng 16,1%; Phú Thọ tăng 15,8%; Kiên Giang tăng 13,9%; Nam Định tăng 13,6%; Phú Yên tăng 12,6%; Hà Nam tăng 11,3%. Địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Hậu Giang tăng 211,3%; Khánh Hòa tăng 89,7%; Thái Bình tăng 82,4%; Trà Vinh tăng 19%; Nam Định tăng 10,9%.

Tốc độ tăng/giảm IIP 7 tháng năm 2023 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%).

Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP giảm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện giảm. Quảng Nam giảm 31,4%; Bắc Ninh giảm 16,7%; Vĩnh Long giảm 15,2%; Sóc Trăng giảm 6,9%; Hòa Bình giảm 4%. Địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện 7 tháng năm 2023 so với cùng kỳ năm trước giảm: Sơn La giảm 47,5%; Điện Biên giảm 41,1%; Cao Bằng giảm 39,1%; Lai Châu giảm 38,1%; Hà Giang giảm 31,4%; Hòa Bình giảm 29,8%; Quảng Nam giảm 15,9%. Địa phương có ngành khai khoáng giảm: Vĩnh Long giảm 76,5%; Hà Giang giảm 41,6%; Điện Biên giảm 11,1%.

Thép, xi măng đều giảm

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 7 tháng năm 2023 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là đường kính và phân hỗn hợp. Trong đó, đường kính tăng 32,3%; phân hỗn hợp N.P.K tăng 15,9%; xăng dầu tăng 13,2%; ti vi tăng 11,4%; vải dệt từ sợi nhân tạo tăng 8,9%; thuốc lá điếu tăng 8,6%; sơn hóa học và sữa tươi cùng tăng 6%.

Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là ô tô và điện thoại di động. Trong đó, ô tô giảm 19,6%; điện thoại di động giảm 19,3%; thép thanh, thép góc giảm 16,7%; xe máy và xi măng cùng giảm 5,8%; quần áo mặc thường giảm 5,7%; phân u rê giảm 4,4%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/7/2023 tăng 0,9% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 3,9% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% và giảm 1,1%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,3% và giảm 3,5%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,2% và giảm 4,4%.

Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 0,9% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% và giảm 4,2%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí không đổi so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 1,9% so với cùng thời điểm năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,1% và tăng 1,7%.

Ý kiến của bạn