Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, sản xuất công nghiệp tháng 4/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tích cực, với chỉ số sản xuất toàn ngành (IIP) ước tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, IIP tăng 9,2%, cao hơn mức tăng 8,6% của cùng kỳ năm 2025, cho thấy đà phục hồi và mở rộng sản xuất tiếp tục được củng cố.
Trong tháng 4/2026, các ngành công nghiệp chủ yếu đều ghi nhận mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Ngành chế biến, chế tạo tăng 10,0%, tiếp tục là động lực chính của tăng trưởng công nghiệp; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,9%; ngành khai khoáng tăng 7,6%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,1%.
Lũy kế 4 tháng đầu năm, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,9%, đóng góp 7,8 điểm phần trăm vào mức tăng chung của toàn ngành; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,5%; ngành khai khoáng tăng 4,0%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%. So với cùng kỳ năm trước, mức tăng của ngành chế biến, chế tạo thấp hơn (10,6%), trong khi ngành khai khoáng đã phục hồi rõ nét sau khi giảm sâu (-4,6%).
Ở cấp ngành trọng điểm cấp II, nhiều lĩnh vực ghi nhận mức tăng trưởng cao, phản ánh sự cải thiện của nhu cầu thị trường và hoạt động sản xuất. Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 20,6%; sản xuất kim loại tăng 18,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 17,9%; sản xuất xe có động cơ tăng 17,0%; sản xuất đồ uống tăng 15,9%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,5%; chế biến thực phẩm tăng 11,8%.
Một số ngành khác tăng ở mức khá như sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, dệt cùng tăng 9,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 9,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,4%.
Ở chiều ngược lại, một số ngành tăng thấp hoặc giảm, phản ánh sự phân hóa trong nội bộ ngành công nghiệp. Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan chỉ tăng 4,4%; khai thác than cứng và than non giảm 5,3%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 0,9%.
Xét theo địa phương, chỉ số IIP 4 tháng đầu năm 2026 tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương đạt mức tăng cao nhờ sự tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện. Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 4 tháng đầu năm 2026 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ninh Bình tăng 30,5%; Phú Thọ tăng 27,9%; Hà Tĩnh tăng 24,2%; Nghệ An tăng 20,2%; Bắc Ninh tăng 19,3%.
Ngược lại, một số địa phương có mức tăng thấp hơn do các ngành chủ lực như chế biến, chế tạo, khai khoáng hoặc sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 4 tháng đầu năm 2026 tăng thấp so với cùng kỳ năm trước: Lạng Sơn tăng 5,6%; Lào Cai tăng 4,3%. Các địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện 4 tháng đầu năm 2026 tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Cà Mau tăng 2,3%; Quảng Trị tăng 1,8%; Lạng Sơn giảm 4,4%.
Về sản phẩm công nghiệp chủ lực, nhiều sản phẩm ghi nhận mức tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng xe máy tăng 33,3%; thủy hải sản chế biến tăng 22,5%; ô tô tăng 22,4%; thép cán tăng 17,0%; thép thanh, thép góc tăng 15,8%; bia tăng 15,5%; sơn hóa học tăng 14,7%. Tuy nhiên, một số sản phẩm giảm như than sạch giảm 5,4%; bột ngọt giảm 4,4%; tivi giảm 4,3%; giày, dép da giảm 4,1%; phân urê giảm 1,1%.
Nhìn chung, sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, trong đó ngành chế biến, chế tạo vẫn giữ vai trò dẫn dắt. Tuy nhiên, sự phân hóa giữa các ngành và giữa các địa phương cho thấy dư địa phục hồi chưa đồng đều, đòi hỏi tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường và năng lực sản xuất trong các tháng tiếp theo.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 4 tháng đầu năm 2026 tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 9,9% và đóng góp 7,8 điểm phần trăm vào mức tăng chung. 

