1. Đặt vấn đề
Tỉnh Đắk Lắk, với vai trò là hạt nhân kinh tế - xã hội của vùng Tây Nguyên, đang trong giai đoạn đô thị hóa nhanh, đặt ra yêu cầu cấp thiết về sự phát triển đồng bộ và bền vững của hệ thống hạ tầng kỹ thuật [1, 2].
Tuy nhiên, thực tiễn tại khu vực trung tâm phường Buôn Ma Thuột cho thấy đang tồn tại những bất cập lớn giữa tốc độ phát triển đô thị và chất lượng hạ tầng hiện hữu. Về khía cạnh kỹ thuật, các hạng mục hạ tầng thiết yếu như nắp hố ga, lưới chắn rác và hệ thống bó vỉa đang đối mặt với tình trạng xuống cấp nhanh chóng.
Các khảo sát hiện trường đã ghi nhận những hư hỏng đặc trưng như: cong vênh, nứt gãy và ăn mòn hóa học đối với nắp hố ga gang/thép; hiện tượng nứt vỡ, bong tróc và rêu mốc đối với bó vỉa bê tông [3].
Sự suy giảm chất lượng này không chỉ làm gia tăng gánh nặng chi phí bảo trì mà còn gây mất an toàn giao thông và ảnh hưởng tiêu cực đến mỹ quan đô thị. Song song với các vấn đề kỹ thuật, công tác quản lý và chỉnh trang đô thị cũng gặp nhiều rào cản về mặt thể chế.
Hệ thống văn bản pháp lý hiện hành còn thiếu tính chi tiết và chưa cập nhật kịp thời so với thực tiễn phát triển, dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong các dự án cải tạo, gây phân tán không gian đô thị và suy giảm chất lượng sống của cư dân.
Xuất phát từ thực trạng trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích các tồn tại trong công tác chỉnh trang đô thị tại phường Buôn Ma Thuột. Trên cơ sở nhận diện các điểm hạn chế về hạ tầng và pháp lý, đề xuất ba nhóm giải pháp chiến lược bao gồm: (1) Hoàn thiện khung pháp lý về quy hoạch - quản lý; (2) Đồng bộ hóa hạ tầng thông qua ứng dụng vật liệu tiên tiến; và (3) Xây dựng cơ chế tài chính nhằm xã hội hóa nguồn lực.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá và phân tích hiện trạng đô thị tại Phường Buôn Ma Thuột, qua đó làm rõ các vấn đề trong công tác chỉnh trang đô thị và khảo sát các văn bản pháp lý liên quan (Hình 1). Mục tiêu của nghiên cứu nhằm nhận diện các bất cập hiện tại và tìm ra giải pháp hiệu quả cho sự phát triển bền vững của khu vực. Quá trình nghiên cứu được triển khai qua các bước chính, bao gồm:
Bước 1: Thu thập và hệ thống hóa dữ liệu
Thu thập và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ quy hoạch và các quyết định liên quan đến công tác chỉnh trang đô thị do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành (Nghị định, Thông tư, Quyết định phê duyệt quy hoạch).
Bước 2: Phân tích nội dung các văn bản pháp lý
Từ nguồn dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu phân tích các tiêu chuẩn kỹ thuật hạ tầng hiện hành để xây dựng căn cứ khoa học cho việc đánh giá hiện trạng. Các quy định này đóng vai trò là tài liệu tham khảo nền tảng giúp nhận diện sự chênh lệch giữa yêu và năng lực đáp ứng của địa phương. Qua đó, nghiên cứu nhận diện những bất cập và pháp lý cần được ưu tiên giải quyết.
Bước 3: Khảo sát thực địa
Thực hiện khảo sát thực địa tại Phường Buôn Ma Thuột thông qua sự kết hợp giữa phương pháp quan sát kỹ thuật và phỏng vấn. Cụ thể, thông qua việc chụp ảnh và đánh giá, nghiên cứu nhận diện chi tiết các hư hỏng của hạ tầng (vỉa hè, thoát nước, cảnh quan). Đồng thời, công tác tham vấn ý kiến cộng đồng dân cư cũng được thực hiện nhằm xác định những bất cập.
Bước 4: Phân tích và đề xuất giải pháp
Tập trung phân tích và đối chiếu dữ liệu thu thập xác định ưu, nhược điểm của công tác quản lý chỉnh trang đô thị hiện tại. Phân tích xác định nguyên nhân của tình trạng xuống cấp hạ tầng và những hạn chế trong quản lý.
3. Kết quả khảo sát
3.1. Đánh giá hiện trạng hạ tầng kỹ thuật đô thị tại phường Buôn Ma Thuột
Dựa trên dữ liệu khảo sát thực địa và các báo cáo rà soát từ UBND TP Buôn Ma Thuột và Sở Xây dựng tỉnh Đắk Lắk [4,6], hiện trạng hạ tầng kỹ thuật tại khu vực nghiên cứu cho thấy những hạn chế đáng kể, cụ thể như sau:
- Về hệ thống giao thông tĩnh (vỉa hè), kết quả khảo sát hiện trường cho thấy sự xuống cấp cục bộ tại nhiều tuyến phố trong khu vực. Các thông số kỹ thuật như độ bằng phẳng, vật liệu lát và độ dốc của vỉa hè chưa tuân thủ nghiêm ngặt các quy chuẩn xây dựng hiện hành, gây khó khăn trong việc di chuyển của người đi bộ, đặc biệt là đối với các nhóm người yếu thế như người khuyết tật và người cao tuổi (Hình 2a-c).
Bên cạnh đó, tình trạng lấn chiếm vỉa hè cho mục đích thương mại và sinh hoạt cá nhân diễn ra phổ biến. một số ảnh điển hình (Hình 2d-g) cho thấy không gian dành cho người đi bộ bị chiếm dụng, hàng hóa và phương tiện dừng đỗ. Thực trạng này không chỉ làm suy giảm mỹ quan đô thị mà còn gây ra các xung đột giao thông giữa người đi bộ và phương tiện cơ giới, đặc biệt trong các khung giờ cao điểm.
- Về hệ thống thoát nước, trên dữ liệu quan trắc môi trường từ Sở Tài nguyên và Môi trường Đắk Lắk hệ thống thoát nước tại khu vực nghiên cứu đang hoạt động trong tình trạng quá tải cục bộ. Năng lực thiết kế của mạng lưới đường ống không đáp ứng kịp thời lưu lượng dòng chảy trong các đợt mưa lớn, dẫn đến hiện tượng ngập úng tại các điểm trũng thấp. Điều này ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường tác động trực tiếp đến đời sống của cư dân.
- Về quy hoạch không gian xanh, mặc dù phường Buôn Ma Thuột ghi nhận chỉ tiêu diện tích cây xanh bình quân đầu người đạt mức tích cực (khoảng 17,21 m²/người), song công tác quản lý và tổ chức không gian thực tế vẫn tồn tại những bất cập.
Cụ thể, sự phân bố mảng xanh thể hiện sự thiếu đồng bộ với mật độ tập trung cao tại các trục cảnh quan lịch sử (như Phan Đình Giót, Lê Duẩn) nhưng lại thưa thớt tại các khu vực đô thị hóa mới, tạo ra sự mất cân bằng sinh thái cục bộ.
Song song đó, mâu thuẫn giữa hệ thống thực vật và hạ tầng kỹ thuật đang trở thành vấn đề cấp thiết; điển hình là tác động xâm lấn của hệ rễ các loài thực vật có kích thước lớn như Xà cừ và Bàng lên kết cấu bó vỉa và mặt đường tại các tuyến Mai Hắc Đế, Y Ngông, không chỉ gây suy giảm tuổi thọ công trình mà còn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông [7].
Thông qua phương pháp đối sánh dữ liệu đa nguồn (khảo sát thực địa và báo cáo kỹ thuật từ Sở Xây dựng Đắk Lắk), các bất cập trọng yếu của hạ tầng kỹ thuật tại phường Buôn Ma Thuột như sau (Hình 3):
- Khảo sát thực tế ghi nhận tình trạng hư hại kết cấu vỉa hè và sự thiếu hụt các thiết bị an toàn (nắp hố ga, lưới chắn rác) do nạn xâm hại vật tư.
- Dữ liệu quan trắc và báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường năm 2020 cho thấy sự thiếu hụt trong quy trình bảo dưỡng định kỳ là nguyên nhân chính khiến hệ thống cây xanh suy giảm sức sống. Đồng thời, hệ thống thoát nước bộc lộ hạn chế về năng lực tiêu thoát, thường xuyên quá tải trước các diễn biến mưa lớn.
- Theo đánh giá của Sở Giao thông vận tải, tốc độ tăng trưởng phương tiện cá nhân đang vượt quá năng lực đáp ứng của hạ tầng, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường (bụi, tiếng ồn) và suy giảm chất lượng không gian cư trú.
Các tồn tại nêu trên cho thấy thiếu đồng bộ giữa tốc độ phát triển đô thị và năng lực quản lý, vận hành hạ tầng. Do đó, việc triển khai các giải pháp nâng cấp đồng bộ là yêu cầu tiên quyết để đảm bảo an sinh xã hội và mỹ quan đô thị.
3.2. Phân tích khung pháp lý và thể chế quản lý
Kết quả phân tích hệ thống văn bản pháp lý hiện hành về công tác chỉnh trang đô thị. Khung pháp lý chủ yếu dựa trên Luật Xây dựng 2014, Luật Quy hoạch đô thị 2009, cùng các Nghị định hướng dẫn và Quyết định của UBND tỉnh Đắk Lắk (Quyết định số 40/2017/QĐ-UBND) [8]. Kết quả phân tích đã chỉ ra ba vấn đề chính trong cơ chế quản lý hiện nay:
- Các quy định hiện hành chủ yếu tập trung vào kiểm soát chỉ tiêu vật lý của công trình, thiếu sự cụ thể hóa các yếu tố môi trường như xử lý nước thải và bảo tồn đa dạng sinh học, dẫn đến việc cải tạo đô thị chỉ dừng lại ở nâng cấp bề mặt mà chưa giải quyết các vấn đề về hệ sinh thái và thoát nước bền vững.
- Đã có quy định theo Nghị định 06/2021/NĐ-CP về quản lý chất lượng thi công [9], nhưng thiếu các quy định bắt buộc về vật liệu thấm nước và thiết kế vỉa hè cho người khuyết tật, dẫn đến sự không đồng bộ trong lựa chọn vật liệu và ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị [10].
- Thiếu phối hợp giữa Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, theo yêu cầu của Luật Quy hoạch. Dẫn đến một số nơi hạ tầng thoát nước thường được triển khai sau khi vỉa hè đã hoàn thiện, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả đầu tư và chất lượng sống của cư dân [11].
4. Đề xuất giải pháp
4.1. Hoàn thiện công cụ quản lý nhà nước thông qua quy chế quản lý kiến trúc đô thị
Theo quy định tại Điều 14 của Luật Kiến trúc [12] và Nghị định 85/2020/NĐ-CP [13], việc xây dựng và ban hành về quy chế quản lý kiến trúc cho khu vực nghiên cứu thuộc phường Buôn Ma Thuột là cấp thiết để khắc phục tình trạng đứt gãy trong cấu trúc cảnh quan đô thị hiện tại.
Quy chế là công cụ pháp lý quan trọng, nhằm cụ thể hóa các chỉ tiêu quy hoạch và chuyển từ việc quản lý dựa trên các yếu tố định tính sang kiểm soát các yếu tố định lượng đối với không gian công cộng. Để giải quyết các vấn đề đã được nêu ra, Quy chế quản lý kiến trúc cần tập trung vào việc chuẩn hóa hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật cho các hạng mục quan trọng như sau:
- Quy chế cần thiết lập các quy định bắt buộc về mặt cắt ngang vỉa hè, thống nhất cao độ nền và độ dốc của vỉa hè nhằm đảm bảo tính tiếp cận cho mọi người, đặc biệt là người khuyết tật và người cao tuổi [14]. Đồng thời, cần quy định chi tiết về chủng loại vật liệu lát vỉa hè, ưu tiên sử dụng vật liệu hướng tới bền vững, chống trơn trượt và thấm nước, nhằm giải quyết tình trạng thiếu đồng bộ trong thiết kế và nâng cao mỹ quan đô thị.
- Hướng dẫn thiết kế đô thị đối với kiến trúc mặt tiền của các công trình tiếp giáp với các trục đường chính. Các quy định này cần kiểm soát chặt các yếu tố như chiều cao công trình, khoảng lùi, màu sắc và các chi tiết trang trí để đảm bảo sự hài hòa với bản sắc văn hóa địa phương và tránh các can thiệp kiến trúc không phù hợp, làm phá vỡ tổng thể cảnh quan đô thị.
4.2. Đồng bộ hóa hạ tầng kỹ thuật ngầm và ứng dụng giải pháp thoát nước bền vững
Nhằm thiện mỹ quan đô thị và giải quyết sự thiếu đồng bộ trong thi công hạ tầng, cần tập trung vào hai giải pháp chính: (1) Xây dựng hệ thống hào kỹ thuật chung giúp tập trung các đường dây cáp viễn thông và điện lực, loại bỏ tình trạng dây nổi gây mất mỹ quan và giảm xung đột trong thi công hạ tầng giữa các đơn vị, từ đó tối ưu tuổi thọ công trình giao thông. (2) Ứng dụng hệ thống thoát nước đô thị bền vững, chuyển từ thoát nước nhanh sang thấm và trữ thông qua các giải pháp như vỉa hè thấm nước, hố cây trữ nước, và rãnh lọc sinh học. Các giải pháp này giúp giảm ngập úng và bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của người dân.
4.3. Đổi mới cơ chế tài chính và thiết lập mô hình giám sát nhiều bên
Nhằm giảm phụ thuộc lớn vào ngân sách, việc huy động nguồn lực xã hội là cần thiết. Nghiên cứu đề xuất áp dụng cơ chế PPP ở quy mô vi mô với các giải pháp sau: (1) Nhà nước đầu tư vào các hạ tầng phức tạp như hạ ngầm, thoát nước, bó vỉa hè, và cộng đồng đóng góp chi phí chỉnh trang bề mặt vỉa hè theo thiết kế chuẩn hóa. Cơ chế nhằm giảm gánh nặng ngân sách và nâng cao trách nhiệm cộng đồng. (2) Thành lập các tổ giám sát đầu tư, với quyền hạn kiểm tra chất lượng thi công và tuân thủ trật tự đô thị.
4.4. Ứng dụng vật liệu bền vững cho hạ tầng đô thị
Ứng dụng vật liệu bền vững và thân thiện với môi trường trong xây dựng hạ tầng đô thị là một yêu cầu cấp thiết. Các vật liệu như vật liệu nhẹ, vật liệu tái chế và bê tông tính năng cao (HPC) được xem là những giải pháp tiên tiến nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời tăng cường tính bền vững và hiệu quả sử dụng lâu dài.
- Vật liệu nhẹ, như bê tông nhẹ và gạch nhẹ, có ưu điểm là giảm tải trọng lên kết cấu công trình, giúp tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và thi công. Đồng thời, chúng giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và có khả năng cách nhiệt, cách âm, cải thiện môi trường sống cho cư dân.
- Sử dụng vật liệu tái chế, như gạch không nung từ cốt liệu phá dỡ và nhựa tái sinh, giúp giảm lượng chất thải xây dựng và tiết kiệm tài nguyên. Những vật liệu này có tính chất cơ lý tương đương hoặc thậm chí vượt trội so với vật liệu truyền thống, đồng thời góp phần giảm thiểu phát thải CO₂ và bảo vệ môi trường.
- Bê tông HPC là một vật liệu tiên tiến với khả năng chịu lực cao, độ bền cao và khả năng chống mài mòn, giúp tiết kiệm chi phí bảo trì và kéo dài tuổi thọ công trình. HPC cũng có thể tích hợp các yếu tố thẩm mỹ và văn hóa địa phương, tạo nên những công trình không chỉ bền vững mà còn đẹp mắt và mang giá trị văn hóa.
Do đó, ứng dụng vật liệu nhẹ, vật liệu tái chế và HPC trong chỉnh trang đô thị không chỉ giúp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường mà còn nâng cao chất lượng công trình, tạo nên những không gian sống bền vững, thân thiện và hài hòa với thiên nhiên.
5. Kết luận và kiến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu, có thể rút ra một số kết luận sau:
- Thiếu đồng bộ trong quy hoạch và hạ tầng hiện tại là nguyên nhân chính gây mất trật tự và ảnh hưởng đến diện mạo đô thị tại phường Buôn Ma Thuột.
- Các văn bản pháp lý hiện hành chưa đủ chi tiết và đồng bộ, đặc biệt trong việc chuẩn hóa các hạng mục công trình và quy định cải tạo không gian công cộng.
- Việc sử dụng vật liệu bền vững như bê tông HPC sẽ không chỉ nâng cao độ bền và giảm chi phí bảo trì dài hạn, mà còn tạo điểm nhấn thẩm mỹ cho đô thị.
- Cần đồng bộ hóa hạ tầng kỹ thuật và ngầm hóa các mạng lưới dây nổi để cải thiện mỹ quan và giảm thiểu khó khăn trong thi công hạ tầng.
- Huy động nguồn lực xã hội qua mô hình PPP sẽ giảm áp lực tài chính cho ngân sách nhà nước và tăng cường sự tham gia, trách nhiệm của cộng đồng trong phát triển đô thị.
* Tiêu đề do Tòa soạn đặt - Mời xem file PDF tại đây
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bộ Chính trị, "Kết luận về xây dựng và phát triển thành phố Buôn Ma Thuột thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên," Hà Nội, 2009.
[2]. UBND tỉnh Đắk Lắk, "Quyết định về việc phê duyệt Đề án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050," Đắk Lắk, 2023.
[3]. Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk, "Thống kê hiện trạng kết cấu hạ tầng giao thông," Đắk Lắk, 2021.
[4]. Viện Chiến lược và Phát triển Giao thông vận tải, "Báo cáo tổng hợp định hướng phát triển giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050," Hà Nội, 2021.
[5]. UBND tỉnh Đắk Lắk, "Quyết định về việc phê duyệt Đề án Quy hoạch tổ chức giao thông thành phố Buôn Ma Thuột đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025," Đắk Lắk, 2015.
[6]. Hội đồng Nhân dân tỉnh Đắk Lắk, "Nghị quyết về Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030," Đắk Lắk, 2014.
[7]. Lê Hương, "Cây xanh đô thị: Điểm nhấn của Buôn Ma Thuột," Báo Đắk Lắk Điện tử, 2023.
[8]. UBND tỉnh Đắk Lắk, "Quyết định về việc ban hành Bảng giá tính thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk," Đắk Lắk, 2017.
[9]. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, "Nghị định quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng," Hà Nội, 2021.
[10]. Bộ Xây dựng, "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Xây dựng công trình đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng," QCVN 10:2024/BXD, Hà Nội, 2024.
[11]. Báo Đắk Lắk, "Tạm dừng thi công cải tạo vỉa hè phường Buôn Ma Thuột," Báo Đắk Lắk, 30/10/2025.
[12]. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, "Luật Kiến trúc," Hà Nội, 2019.
[13]. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, "Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Kiến trúc," Hà Nội, 2020.
[14]. Bộ Khoa học và Công nghệ, "Nhà và công trình - Nguyên tắc cơ bản để thiết kế đảm bảo người khuyết tật tiếp cận sử dụng," TCVN 264:2014, Hà Nội, 2014.

Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, công tác chỉnh trang đô thị tại phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, nâng cao chất lượng không gian kiến trúc và bảo đảm phát triển bền vững. 

