Có mô hình BIM chưa đủ để kiểm soát chất lượng hồ sơ

Mô hình BIM chỉ phát huy giá trị quản lý khi dữ liệu được kiểm tra, vấn đề được giao đúng người xử lý và hồ sơ được kiểm soát trước khi phát hành. Muốn đạt được điều đó, chủ đầu tư phải tổ chức nhân lực, quy trình và công cụ cùng với kế hoạch dự án.
Có mô hình BIM chưa đủ để kiểm soát chất lượng hồ sơ
Giá trị quản lý của mô hình BIM nằm ở khả năng kiểm tra dữ liệu và theo dõi quá trình xử lý hồ sơ.

Một dự án có thể tạo ra nhiều mô hình BIM nhưng vẫn gặp khó khăn khi trả lời những câu hỏi cơ bản: phiên bản nào đang được sử dụng, xung đột nào chưa giải quyết, ai chịu trách nhiệm điều chỉnh và hồ sơ đã đủ điều kiện phát hành hay chưa.

Vấn đề nằm ở cách tổ chức công việc phía sau mô hình. Người tạo lập cần biết yêu cầu thông tin. Người kiểm tra cần có tiêu chí và dữ liệu để đối chiếu. Người quản lý cần theo dõi được kết quả xử lý. Khi những công việc này chưa được phân định, mô hình khó trở thành căn cứ đáng tin cậy cho quản lý dự án.

BIM vì thế cần được tiếp cận từ năng lực thực hiện. Phần mềm, máy tính, dữ liệu và kinh phí chỉ tạo ra kết quả khi có người đủ khả năng sử dụng, phối hợp và kiểm soát đầu ra.

Nhu cầu nhân lực lớn hơn số người dựng mô hình

Trong một dự án BIM, thông tin đi qua ít nhất sáu nhóm chủ thể: cơ quan quản lý nhà nước; chủ đầu tư, Ban QLDA; tư vấn thiết kế; tư vấn BIM, thẩm tra; nhà thầu thi công; đơn vị vận hành và tiếp nhận bàn giao.

Mỗi nhóm khai thác dữ liệu theo nhiệm vụ khác nhau. Tư vấn thiết kế tập trung vào độ chính xác và khả năng phát hành mô hình. Chủ đầu tư cần kiểm soát yêu cầu thông tin, tiến độ và chất lượng đầu ra. Tư vấn BIM thực hiện điều phối, kiểm tra và theo dõi vấn đề. Nhà thầu sử dụng dữ liệu phục vụ thi công, cập nhật hoàn công. Đơn vị vận hành cần thông tin phù hợp để quản lý công trình sau bàn giao.

Điều đó cho thấy nhu cầu nhân lực BIM không thể tính bằng số người biết dựng mô hình. Cần phân biệt bốn tầng năng lực: tạo lập mô hình; điều phối và kiểm soát; quản trị thông tin, dự án; thẩm định và kiểm tra độc lập.

Để hình dung quy mô nguồn lực ở lớp quản lý cấp tỉnh, có thể đặt một cấu hình gồm bốn suất vai trò tại mỗi Sở Xây dựng: một đầu mối quản trị BIM, hai cán bộ thẩm định hoặc kiểm tra theo chuyên ngành và một cán bộ dữ liệu. Với 34 Sở, cấu hình này tương ứng 136 suất vai trò.

Nếu mỗi địa phương có hai, ba hoặc bốn Ban QLDA, mỗi Ban bố trí bốn suất vai trò BIM lõi, tổng quy mô tại lớp Sở và Ban QLDA lần lượt là 408, 544 và 680 suất vai trò.

Đây là các kịch bản tính toán phục vụ hoạch định, không phải định biên bắt buộc hay số người đang thiếu. “Suất vai trò” được sử dụng vì một chuyên gia có thể phục vụ nhiều dự án; ngược lại, một vai trò ở dự án lớn có thể cần nhiều người.

Ở cấp dự án, khoảng tham chiếu được đề xuất là 13-21 suất vai trò đối với công trình cấp II điển hình; 21-34 đối với công trình cấp I, đa bộ môn phức tạp; 33-56 đối với dự án hạ tầng lớn hoặc đường sắt có nhiều gói thầu. Các khoảng này tính trên sáu nhóm chủ thể, thay đổi theo số bộ môn, khối lượng dữ liệu và yêu cầu phối hợp.

Ý nghĩa của cách tính nằm ở việc làm rõ cơ cấu công việc. Nhóm tạo lập mô hình thường chiếm số lượng lớn, nhưng người điều phối, quản lý thông tin và kiểm tra quyết định khả năng kiểm soát hồ sơ. Nếu chỉ tăng người dựng mô hình, số lượng sản phẩm có thể tăng trong khi những vấn đề về dữ liệu và trách nhiệm vẫn tồn tại.

Mỗi chủ thể cần năng lực và công cụ phù hợp với nhiệm vụ sử dụng dữ liệu BIM.

Phải kiểm soát được công việc phía sau dữ liệu

Yêu cầu trao đổi mô hình theo định dạng IFC cho thấy rõ mối liên hệ giữa công cụ và năng lực. Có phần mềm xuất IFC mới đáp ứng một bước. Phía tạo lập còn phải kiểm tra mô hình, thuộc tính và cấu trúc dữ liệu. Phía tiếp nhận cần đọc, đối chiếu và đánh giá thông tin.

Tương tự, CDE cần được vận hành như một môi trường quản lý công việc. Quyền truy cập, phiên bản, trạng thái hồ sơ và lịch sử phê duyệt phải phản ánh đúng trách nhiệm của các bên. Tập hợp tệp vào một nơi chưa đủ để kiểm soát quá trình xử lý.

Khoảng thiếu hụt đáng chú ý hiện nay nằm ở năng lực quản trị và kiểm tra. Các vị trí này cần hiểu chuyên môn xây dựng, hợp đồng, tiêu chuẩn dữ liệu và có kinh nghiệm xử lý vấn đề. Một khóa học thao tác phần mềm khó đáp ứng đầy đủ những yêu cầu đó.

Năng lực giữa các bên cũng cần được kết nối. Tư vấn có thể mạnh về tạo mô hình nhưng chưa thành thạo CDE. Ban QLDA có kinh nghiệm thủ tục nhưng thiếu kỹ năng kiểm tra dữ liệu. Nhà thầu hiểu biện pháp thi công nhưng chưa chuẩn hóa thông tin bàn giao. Khi mỗi bên có một cách làm, hiệu quả phối hợp bị ảnh hưởng dù đều đã đầu tư công cụ.

Vì vậy, đào tạo phải theo vai trò. Cán bộ thẩm định cần biết đọc IFC, nhận diện thông tin còn thiếu và đối chiếu hồ sơ. Người điều phối cần kiểm tra phối hợp, phân loại vấn đề và theo dõi xử lý. Người quản lý cần xác lập yêu cầu, phân quyền và kiểm soát đầu ra.

Kế hoạch nguồn lực phải được lập cùng kế hoạch dự án. Bổ sung BIM sau khi ký hợp đồng hoặc khi thiết kế gần hoàn thành dễ dẫn đến thiếu ngân sách, nhân lực và thời gian điều phối. Chủ đầu tư cần xác định ngay từ đầu phần việc tự thực hiện, phần việc thuê ngoài, nhu cầu đào tạo và chi phí công cụ.

Hồ sơ mời thầu cũng cần chuyển những yêu cầu chung như “có nhân sự BIM” thành năng lực gắn với đầu ra cụ thể. Người tạo lập, người kiểm tra và người phê duyệt phải có trách nhiệm rõ; việc kiêm nhiệm cần tính đến yêu cầu kiểm soát độc lập.

Kết nối kiểm tra mô hình với quá trình xử lý hồ sơ

Từ những yêu cầu đó, Công ty cổ phần Công nghệ TBT Việt Nam xây dựng BIM Xây dựng 360 theo hướng kết nối công cụ kiểm tra mô hình với quản lý dữ liệu. Chuỗi chức năng được giới thiệu gồm: phân quyền, đọc IFC, phối hợp mô hình, phát hiện xung đột, quản lý vấn đề, kiểm tra, phê duyệt và bàn giao.

Điểm tập trung là đưa kết quả kiểm tra vào quá trình xử lý. Một vị trí xung đột cần được chuyên gia xem xét, phân loại và chuyển thành yêu cầu điều chỉnh. Người xử lý cần biết nội dung phải sửa; người kiểm tra cần đối chiếu lại; người quản lý cần nắm được vấn đề còn tồn tại.

Chức năng đọc IFC hỗ trợ tiếp nhận dữ liệu mở. Phối hợp mô hình đưa các bộ môn vào cùng không gian kiểm tra. BCF/Issue phục vụ trao đổi và quản lý vấn đề liên quan đến mô hình. CDE hỗ trợ kiểm soát quyền, phiên bản, trạng thái và lịch sử.

Ưu điểm của việc kết nối các bước này là hướng tới một luồng thông tin có thể theo dõi từ khi phát hiện vấn đề đến khi xác nhận kết quả. Người dùng có cơ sở tra cứu vị trí, trách nhiệm và tình trạng xử lý ngay trong quá trình phối hợp.

Kết quả kiểm tra mô hình được kết nối với công việc xử lý trên BIM Xây dựng 360.

Hiệu quả sản phẩm cần được chứng minh bằng dữ liệu dự án. Tại (tên hoặc mô tả dự án), (số đơn vị) phối hợp (số mô hình, hồ sơ) trên hệ thống. Trong (kỳ thống kê), nhóm phụ trách ghi nhận (số vấn đề sau rà soát), trong đó (số hoặc tỷ lệ) đã hoàn tất.

Đây cũng là cách đánh giá BIM cần được duy trì: theo dõi thời gian xử lý, tỷ lệ vấn đề hoàn tất, lỗi phát hành và chất lượng bàn giao. Số mô hình hay tài khoản sử dụng chưa phản ánh đầy đủ kết quả.

Ở bước bàn giao, dữ liệu phải được tổ chức theo yêu cầu đã thống nhất để chủ đầu tư tiếp tục khai thác. Khả năng xuất dữ liệu, lưu trữ và truy cập sau khi kết thúc dịch vụ cần được làm rõ trong phương án triển khai.

Báo cáo tổng hợp trên BIM Xây dựng 360 hiển thị loại vấn đề, mức độ ưu tiên, trạng thái xử lý và người được giao phụ trách trong dự án mẫu.

Lựa chọn công cụ cần căn cứ yêu cầu công việc và khả năng kiểm chứng đầu ra. Với BIM Xây dựng 360, mục tiêu là hỗ trợ các bên kiểm tra, phối hợp và theo dõi dữ liệu trong một quy trình rõ trách nhiệm. Chất lượng hồ sơ và kết quả xử lý tại dự án là căn cứ để đánh giá mục tiêu đó.

Bình luận
Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công - Nông nghiệp Quảng Trị
  • Dự án Monrei Saigon Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam