Chỉ đạo điều hành

Đánh giá kỹ về khả năng khan hiếm và tăng giá vật liệu

Đầu tư xây dựng cao tốc Bắc - Nam đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành

Đánh giá kỹ về khả năng khan hiếm và tăng giá vật liệu

Thanh Nga Thanh Nga - 06:00, 18/04/2024

Tạp chí Xây dựng - Bộ xây dựngBáo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành cần đánh giá kỹ về khả năng bố trí nguồn lực, khả năng khan hiếm và tăng giá nguyên vật liệu…

Kết nối Tây Nguyên với vùng Đông Nam Bộ

Chiều 17/4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về Tờ trình của Chính phủ về Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa (Đắk Nông) - Chơn Thành (Bình Phước).

Ảnh: quochoi.vn.

Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng trình bày tóm tắt Tờ trình Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án cho biết, là dự án trọng điểm quốc gia, việc triển khai Dự án không chỉ tạo động lực, sức lan tỏa, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nguyên mà còn góp phần hoàn thiện mạng lưới cao tốc theo quy hoạch liên kết vùng.

Mục tiêu đầu tư Dự án nhằm kết nối Tây Nguyên với vùng Đông Nam Bộ, kết nối TP.HCM với các tỉnh Bình Phước, Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai và các địa phương khác trong vùng, tạo không gian phát triển mới; Khai thác tiềm năng sử dụng đất, phát triển du lịch, công nghiệp chế biến, khai khoáng… góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và quốc gia theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Trên cơ sở các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng và thực tiễn triển khai một số dự án cao tốc quan trọng quốc gia, Chính phủ đề xuất phân chia Dự án thành 5 dự án thành phần, gồm 1 dự án thành phần đầu tư theo phương thức PPP và 4 dự án thành phần đầu tư công. Dự án sẽ tiến hành chuẩn bị đầu tư từ năm 2023, thực hiện từ năm 2024, phấn đấu hoàn thành Dự án năm 2026.

Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng trình bày tóm tắt Tờ trình. Ảnh: quochoi.vn.

Về một số đề xuất cơ chế, chính sách đầu tư Dự án, Chính phủ kiến nghị Quốc hội cho phép Dự án áp dụng một số cơ chế, chính sách đặc thù về: Nguồn vốn, cơ chế chỉ định thầu và khai thác khoáng sản.

Trong đó, về nguồn vốn, đề nghị Quốc hội chấp thuận bố trí 8.770 tỷ đồng từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi thường xuyên của NSTW năm 2022 và 1.500 tỷ đồng từ nguồn dự phòng của kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn NSTW giai đoạn 2021-2025 để đầu tư Dự án; cho phép kéo dài thời gian giải ngân đến hết năm 2026 đối với số vốn bố trí từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi thường xuyên của NSTW năm 2022 để thực hiện Dự án (8.770 tỷ đồng).

Về cơ chế chỉ định thầu, đề nghị Quốc hội cho phép người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc chỉ định thầu trong quá trình triển khai thực hiện Dự án đối với các gói thầu tư vấn, các gói thầu phục vụ di dời hạ tầng kỹ thuật, các gói thầu thực hiện đền bù, GPMB và tái định cư và áp dụng trong 02 năm kể từ ngày Dự án được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư.

Về khai thác khoáng sản làm VLXD thông thường để thực hiện dự án, đề nghị Quốc hội cho phép trong giai đoạn triển khai Dự án, nhà thầu thi công không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy phép khai thác khoáng sản làm VLXD thông thường nằm trong Hồ sơ khảo sát VLXD. Việc khai thác khoáng sản quy định tại khoản này được thực hiện đến khi hoàn thành Dự án. Trường hợp không phải lập dự án đầu tư khai thác khoáng sản thì không phải thực hiện thủ tục lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Đánh giá tác động khả năng khan hiếm vật liệu

Trình bày Báo cáo thẩm tra tại phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh cho biết, có ý kiến đề nghị cần đánh giá kỹ về khả năng bố trí nguồn lực, đánh giá tác động của việc triển khai cùng lúc nhiều dự án hạ tầng đối với khả năng giải ngân, hấp thụ vốn, sự cân đối và hiệu quả trong phân bổ nguồn lực, năng lực quản lý, khả năng gây ra tình trạng khan hiếm và tăng giá nguyên vật liệu, để bảo đảm hiệu quả trong việc sử dụng vốn đầu tư.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh trình bày Báo cáo thẩm tra. Ảnh: quochoi.vn.

Một số ý kiến đề nghị bổ sung đánh giá tác động của Dự án đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để làm rõ hơn sự cần thiết, cấp thiết của Dự án; Làm rõ hơn sự phù hợp của Dự án với các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch có liên quan; Cân nhắc mở rộng đầu tư đoạn kết nối 2 km của Dự án theo quy mô 4 làn xe tiêu chuẩn TCVN 5729:2012, để bảo đảm kết nối đồng bộ với đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Chơn Thành đang triển khai đầu tư, phát huy hiệu quả đầu tư (giảm thiểu chi phí trong quá trình nâng cấp, mở rộng sau này); Làm rõ hơn tính hấp dẫn của Dự án đối với các nhà đầu tư khi các chỉ số về hiệu quả tài chính của Dự án là không cao…

Đề nghị Chính phủ có các giải pháp chỉ đạo, điều hành quyết liệt, đồng bộ để nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cơ quan thực hiện và có chế tài gắn trách nhiệm đối với các cấp chính quyền địa phương bảo đảm tiến độ hoàn thành Dự án; Bổ sung các giải pháp để bảo đảm tiến độ, chất lượng cho Dự án; Chính phủ, các địa phương cần cam kết trách nhiệm tổ chức thực hiện bảo đảm hiệu quả, tiến độ, chất lượng cho Dự án và bổ sung vai trò của Bộ GTVT, cơ quan chủ quan đầu mối/chủ trì có trách nhiệm điều phối chung các dự án thành phần trong triển khai thực hiện…

Về kiến nghị các cơ chế tổ chức thực hiện, Thường trực Ủy ban Kinh tế nhận thấy các cơ chế, chính sách này đã được Quốc hội cho phép áp dụng đối với dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội, do đó đề xuất của Chính phủ đối với Dự án là có cơ sở.

Về kiến nghị khai thác khoáng sản làm VLXD thông thường để thực hiện Dự án, Thường trực Ủy ban Kinh tế nhận thấy cơ chế, chính sách này đã được Quốc hội cho phép áp dụng tại Nghị quyết số 106/2023/QH15 ngày 28/11/2023 về thí điểm một số chính sách đặc thù về đầu tư xây dựng công trình đường bộ. Tuy nhiên, đề nghị bổ sung các quy định về nhà thầu thi công và UBND cấp tỉnh tương tự như khoản 2 và khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 106/2023/QH15 để bảo đảm đầy đủ trách nhiệm của các bên liên quan.

Bảo đảm bố trí được nguồn ngân sách địa phương

Phát biểu thảo luận tại Phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, ngân sách Lê Quang Mạnh cho biết, tổng số nguồn vốn của dự án khoảng 25.540 tỷ đồng; trong đó 50% được dự kiến bố trí từ NSNN khoảng 12.770 tỷ đồng, NSTW dự kiến là khoảng 10.536 tỷ đồng, NSĐP khoảng 2.233 tỷ đồng.

Qua quá trình giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 và các nghị quyết của Quốc hội về một số dự án quan trọng quốc gia đến hết năm 2023 vừa qua cho thấy, một số địa phương khi triển khai thực hiện cam kết về đóng góp ngân sách cho các công trình lớn quốc gia cũng gặp khó khăn.

Mặc dù thời điểm này các địa phương rất quyết tâm, tuy nhiên, thời gian còn lại của kế hoạch đầu tư công trung hạn không còn nhiều, ngân sách của địa phương cũng eo hẹp. Do đó, Chủ nhiệm Lê Quang Mạnh đề nghị các địa phương cần tính toán kỹ lưỡng; Chính phủ cần có thêm biện pháp để cùng các địa phương bảo đảm bố trí được nguồn ngân sách của địa phương.

Các đại biểu phát biểu thảo luận tại Phiên họp.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Y Thanh Hà Niê Kđăm bày tỏ băn khoăn về thời gian, tiến độ GPMB phục vụ triển khai Dự án. Mặc dù quyết tâm chính trị của các địa phương có cao tốc đi qua rất lớn, nhưng cũng cần có sự khẳng định của lãnh đạo các địa phương, trong đó cần quan tâm, tính toán đến phương án đền bù, GPMB như thế nào.

Ngoài ra, các địa phương có dự án đi qua, cũng đang triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có phần vốn đối ứng thực hiện dự án. Do vậy, cần có kế hoạch bố trí nguồn vốn vừa phục vụ GPMB triển khai cao tốc, vừa bảo đảm thực hiện đúng tiến độ của Chương trình mục tiêu quốc gia.

Liên quan đến vấn đề GPMB, Bí thư Tỉnh ủy Bình Phước Nguyễn Mạnh Cường cho biết, hai tỉnh đã có sự chủ động và kế hoạch, phương án từ sớm, nhằm đảm bảo cho công tác GPMB được thuận lợi sau khi Dự án được phê duyệt.

Phát biểu tiếp thu, giải trình làm rõ một số nội dung được nêu tại phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng cho biết, hướng tuyến của Dự án theo quy hoạch dài 140 km. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu, địa phương đề xuất thay đổi điểm đầu của cao tốc làm giảm độ dài của tuyền cao tốc, nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu tăng cường liên kết vùng, đáp ứng nhu cầu vận tải.

Đối với tiến độ và khả năng giải ngân, đây là Dự án lớn, có chiều dài đáng kể, nên việc thực hiện theo đúng lộ trình là tương đối khó khăn. Có hai yếu tố ảnh hưởng lớn tới tiến độ triển khai Dự án là công tác GPMB và hồ sơ mỏ vật liệu thi công.

Về GPMB, Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng đề nghị, ngay sau khi Quốc hội thông qua chủ trương, các địa phương cần khẩn trương lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, trong đó chuẩn bị kỹ các điều kiện tránh tác động trong thực tiễn. Công tác lập hồ sơ GPMB cần được thực hiện song song với công tác lập thiết kế cơ sở để ngay sau khi phê duyệt Dự án thì có thể triển khai ngay công tác GPMB.   

Về hồ sơ mỏ VLXD, cần xác định cụ thể nguồn cung cấp vật liệu cho Dự án trong Báo cáo nghiên cứu khả thi, đánh giá kỹ về trữ lượng, điều kiện khai thác, bao gồm cả công tác GPMB để khai thác mỏ, đặc biệt phải rà soát kỹ những vướng mắc về thủ tục khai thác mỏ để chủ động tháo gỡ, đáp ứng yêu cầu, quản lý chặt chẽ giá thành VLXD…

Dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa (Đắk Nông) - Chơn Thành (Bình Phước), có điểm đầu giao đường Hồ Chí Minh (QL.14) tại Km1915+900, thuộc địa phận huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông; điểm cuối kết nối với đường Hồ Chí Minh đoạn Chơn Thành - Đức Hòa, thuộc địa phận thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Tổng chiều dài khoảng 128,8 km; trong đó đoạn qua địa phận Bình Phước khoảng 101 km, đoạn qua địa phận Đắk Nông khảng 27,8 km; chiều dài đường cao tốc khoảng 126,8 km, chiều dài đoạn tuyến kết nối từ nút giao với cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Chơn Thành đến đường Hồ Chí Minh đoạn Chơn Thành - Đức Hòa khoảng 2 km.

Theo quy hoạch, Dự án sẽ có quy mô 4 làn xe hoàn chỉnh; GPMB thực hiện một lần theo quy mô quy hoạch 6 làn xe. Sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 25.540 tỷ đồng bao gồm 12.770 tỷ đồng vốn Nhà nước và 12.770 tỷ đồng vốn do nhà đầu tư huy động.

Ý kiến của bạn