Công trình xanh

Danh mục cập nhật các cơ sở phải kiểm kê khí nhà kính tăng 981 cơ sở

Danh mục cập nhật các cơ sở phải kiểm kê khí nhà kính tăng 981 cơ sở

Thanh Nga Thanh Nga - 07:00, 20/12/2023

Tạp chí Xây dựng - Bộ xây dựngRiêng ngành Xây dựng tăng thêm 36 cơ sở, không bao gồm các tòa nhà chung cư, bệnh viện, trường học do việc vận hành các công trình này không thuộc diện quản lý của ngành Xây dựng.

Theo dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải KNK phải thực hiện kiểm kê KNK cập nhật, Danh mục cập nhật các cơ sở phải thực hiện kiểm kê KNK bao gồm 2.893 cơ sở, tăng 981 cơ sở so với Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg ban hành ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải KNK phải thực hiện kiểm kê KNK.

Như vậy, sau gần 01 năm triển khai Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg, dự thảo Quyết định ban hành mới danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải KNK phải thực hiện kiểm kê KNK tiếp tục được Bộ TN&MT soạn thảo theo hướng bổ sung thêm các lĩnh vực, cơ sở có phát thải KNK và lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp.

Trong đó, ngành Công Thương có 2.261 cơ sở là các nhà máy điện, các cơ sở công nghiệp có tổng mức tiêu thụ năng lượng hằng năm từ 1.000 TOE trở lên, tăng thêm 599 cơ sở so với năm 2022.

Ngành GTVT có 81 cơ sở là các công ty kinh doanh vận tải hàng hóa đã được Bộ GTVT rà soát, đề xuất đưa vào danh mục, có tổng mức tiêu thụ năng lượng hằng năm từ 1.000 TOE trở lên, tăng thêm 11 cơ sở so với năm 2022. 

Ngành Xây dựng có 140 cơ sở là các doanh nghiệp sản xuất xi măng và các tòa nhà thương mại có tổng mức tiêu thụ năng lượng hằng năm từ 1.000 TOE trở lên, tăng thêm 36 cơ sở so với năm 2022. Theo ý kiến của các cơ quan liên quan của Bộ Xây dựng, danh mục thuộc ngành Xây dựng không bao gồm các tòa nhà chung cư, bệnh viện, trường học do việc vận hành các loại tòa nhà này không thuộc diện quản lý của ngành Xây dựng và lượng phát thải KNK, tiềm năng giảm phát thải KNK của các loại tòa nhà nêu trên không lớn so với tổng phát thải KNK của lĩnh vực tòa nhà.  

Ngành TN&MT có 70 cơ sở xử lý chất thải rắn có công suất hoạt động hằng năm từ 65.000 tấn trở lên, giảm 6 cơ sở so với năm 2022.

Ngành NN&PTNT có 341 cơ sở hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi có tổng lượng phát thải KNK hàng năm ước tính từ 3.000 tấn CO2 tương đương trở lên. Hiện nay, ngành NN&PTNT của Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực chăn nuôi đã phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch COVID, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng phát thải KNK quốc gia. Tuy nhiên, Danh mục tại Quyết định 01/2022/QĐ-TTg chưa bao gồm các cơ sở thuộc ngành này. Nhằm hướng tới mục tiêu quản lý phát thải KNK của toàn bộ nền kinh tế, việc bổ sung các cơ sở thuộc ngành NN&PTNT vào danh mục các cơ sở phải kiểm kê KNK là phù hợp ở thời điểm hiện tại.

Như vậy, tổng số cơ sở thuộc các danh mục cập nhật là 2.893 cơ sở, tăng thêm 981 cơ sở, tương đương với mức tăng 51,3% so với năm 2022, ước tính chiếm tỷ lệ khoảng 34,5% trong tổng phát thải KNK quốc gia. Đây là các cơ sở có mức phát thải KNK cao thuộc tất cả các ngành, lĩnh vực cần được quản lý chặt chẽ về phát thải KNK, thực hiện các hoạt động giảm phát thải KNK trong giai đoạn từ nay tới 2030 và có vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu giảm phát thải theo NDC vào năm 2030.

Theo Tờ trình của Bộ TN&MT, Thỏa thuận Paris yêu cầu chi tiết hóa số liệu kiểm kê các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, sử dụng đất và lâm nghiệp, quản lý chất thải, các quá trình công nghiệp.

Đồng thời, các quốc gia phải dần kiểm soát ít nhất 85% tổng phát thải quốc gia từ các nguồn, cơ sở phát thải KNK trên phạm vi toàn quốc và thuộc các lĩnh vực nêu trên.

Trong khi đó, Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải KNK phải thực hiện kiểm kê KNK mới kiểm soát được 23% tổng phát thải KNK quốc gia.

Ý kiến của bạn