1. Bối cảnh
Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm soát ô nhiễm (nay là Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) khối lượng chất thải rắn phát sinh trên toàn bộ Việt Nam khoảng 25 triệu tấn trong năm 2023 và khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh 67.877tấn/ngày: đô thị phát sinh 38.143 tấn/ngày, chiếm tỷ lệ 56,2 %; nông thôn phát sinh 29.734 tấn/ngày ~ 43,8%. Các số liệu này có thể được sơ đồ hóa như hình 1:
Khối lượng chất thải rắn phát sinh hàng ngày rất lớn như vậy đã tạo nên những khó khăn lớn không chỉ trong thu gom, vận chuyển mà cả trong xử lý. Cũng theo số liệu của Cục kiểm soát ô nhiễm môi trường năm 2023, số lượng các công nghệ xử lý trên toàn bộ Việt Nam được thống kê như sau:
- Chôn lấp chiếm tỷ lệ 62,98%; - Đốt có phát điện chiếm tỷ lệ 10,09%; - Đốt không phát điện chiếm tỷ lệ 14,08%; - Mùn/phân hữu cơ chiếm tỷ lệ 12,85%. Số lượng các loại hình công nghệ trên đây được sơ đồ hóa như Hình 2.
Ghi chú: Số lượng lò đốt thống kê trên đây không kể đến các lò đốt chất thải bệnh viện, chất thải nguy hại.
Cho đến thời điểm hiện tại, nhiều địa phương không còn khả năng tiếp tục áp dụng phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng chôn lấp do chiếm nhiều diện tích đất và tiềm ẩn rủi ro môi trường cao, đặc biệt là ô nhiễm mùi, ô nhiễm đất, nguồn nước mặt và nước ngầm. Hậu quả là nhiều địa phương đang tồn đọng hàng nghìn tấn chất thải rắn chưa được xử lý. Trong bối cảnh này, chôn lấp không còn là lựa chọn khả thi, và giải pháp xử lý bằng công nghệ đốt được xem là hướng đi duy nhất.
Tuy nhiên, cần xác định rõ mục tiêu: đốt thuần túy để tiêu hủy, hay đốt nhằm thu hồi năng lượng? Nếu chỉ đốt để tiêu hủy mà không thu hồi năng lượng thì sẽ dẫn đến lãng phí tài nguyên. Bởi lẽ, một trong những nguyên tắc cốt lõi trong quản lý chất thải rắn hiện đại là coi chất thải như nguồn tài nguyên; việc xử lý và tái sử dụng chất thải phải hướng đến xây dựng một nền kinh tế tuần hoàn và phát triển xanh.
Mặt khác, các địa phương cần thực hiện lộ trình giảm thiểu tỷ lệ chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt đô thị theo Quyết định 450/QĐ-TTg ngày 13/4/2022 của Thủ tướng Chính phủ quy định về tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được xử lý bằng phương pháp chôn lấp trực tiếp trên tổng lượng chất thải thu gom được tính đến năm 2025 là dưới 30%, đến năm 2030 sẽ là dưới 10%. Chính vì lý do đó, khi các địa phương tiến hành đầu tư mới hoặc bắt đầu vận hành những cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt cần phải ưu tiên đầu tư vào công nghệ hiện đại, an toàn và thân thiện với môi trường.
2. Thực trạng về công nghệ thiêu đốt chất thải rắn thu hồi năng lượng tại Việt Nam
2.1. Giới thiệu chung về công nghệ đốt chất thải rắn thu hồi năng lượng
a. Các khái niệm: Công nghệ đốt rác là quá trình chuyển đổi rác thành năng lượng thông qua quá trình đốt cháy. Khi rác được đốt cháy ở nhiệt độ cao, các chất hữu cơ trong rác sẽ phân hủy thành khí, chất rắn và chất lỏng, tạo ra nhiên liệu đốt. Năng lượng được tạo ra từ quá trình đốt cháy này có thể được sử dụng để sản xuất điện hoặc nhiên liệu cho công nghiệp.
Công nghệ đốt rác phát điện (Waste-to-Energy - WtE) là phương pháp chuyển đổi năng lượng từ rác thải thành điện năng thông qua quá trình xử lý rác thải bằng công nghệ đốt rác. Điện năng được tạo ra bằng cách sử dụng nhiệt độ cao được tạo ra trong quá trình đốt rác để biến nước thành hơi nước và sinh ra hơi nước này để đẩy một cặp bánh xe của máy phát điện tạo ra điện năng.
Nguyên lý hoạt động của hệ thống đốt rác phát điện là dựa trên quá trình đốt cháy các thành phần hữu cơ trong rác tại nhiệt độ cao (thường từ 850÷1200°C), với sự hỗ trợ của khí oxy. Quá trình này giải phóng nhiệt lượng, được chuyển hóa thành hơi nước để chạy tua-bin phát điện, đồng thời giảm đến 90% thể tích và 70% khối lượng rác ban đầu.
Sản phẩm chính sau quá trình đốt rác gồm: (i) Điện năng hoặc nhiệt năng; (ii) Tro đáy (bottom ash), chiếm khoảng 5÷7% khối lượng ban đầu; (iii) Tro bay (fly ash), khoảng 1÷2%; (iv) Khí thải, được xử lý nghiêm ngặt trước khi thải ra môi trường. Lưu ý thêm rằng tỷ lệ % tro xỉ tạo thành sau khi đốt phụ thuộc rất nhiều thành phần của rác đầu vào, chẳng hạn rác có được sơ loại trước khi đưa vào đốt hay không, thành phần cháy được và không cháy được có trong rác đầu vào không?.
Các loại hình công nghệ lò đốt chất thải rắn sinh hoạt: Có ba công nghệ lò đốt chất thải được sử dụng nhiều nhất trong các nhà máy đốt chất thải phát điện hiện nay, đó là: Công nghệ lò đốt buồng lửa có ghi (stocker incinerators), công nghệ lò đốt thùng quay (Rotary Kiln incinerators) và công nghệ lò đốt tầng sôi (Fluidized Bed Incinerators) [2].
b. Các ưu điểm công nghệ đốt rác phát điện
Công nghệ đốt rác thu hồi năng lượng hay công nghệ điện rác có những ưu điểm nổi trội so với công nghệ chôn lấp hoặc các loại hình công nghệ xử lý chất thải rắn khác. Bao gồm các ưu điểm sau đây:
- Công nghệ xử lý chất thải rắn bằng thiêu đốt có khả năng giảm tới 90% thể tích và 70% khối lượng chất thải ban đầu.
- Giảm áp lực lên quỹ đất chôn lấp - một tài nguyên ngày càng khan hiếm, đặc biệt tại các đô thị lớn.
- Chuyển hóa năng lượng nhiệt từ rác thải thành điện năng đóng góp vào lưới điện quốc gia. Mỗi tấn rác có thể tạo ra từ 300 - 600 kWh điện, tùy công nghệ và thành phần cháy được (nhiệt trị) của rác cũng như độ ẩm của rác đầu vào.
Tại Việt Nam, một số nhà máy điển hình như: Nhà máy điện rác Sóc Sơn (Hà Nội): Công suất xử lý 4.000 tấn/ngày, tổng vốn đầu tư lên tới 7.000 tỷ đồng, phát điện 75 MWh, Nhà máy điện rác Cần Thơ có công suất xử lý 400 tấn/ngày; công suất phát điện 7,5MWh; vốn đầu tư 1.054 tỷ đồng
- Góp phần giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, phù hợp mục tiêu giảm phát thải CO₂.
- Tiết kiệm diện tích đất. Một nhà máy đốt rác có thể xử lý tương đương lượng rác của hàng trăm hecta bãi chôn lấp.
- Giảm áp lực tìm kiếm đất xây dựng bãi rác mới, một vấn đề nan giải tại các thành phố đông dân.
- Hạn chế phát thải khí nhà kính - quá trình chôn lấp hữu cơ sinh ra methane (CH₄) - loại khí nhà kính mạnh hơn CO₂ tới 25 lần. Trong khi đó, lò đốt nếu vận hành tốt gần như loại bỏ hoàn toàn CH₄, góp phần thực hiện mục tiêu Net-Zero và các cam kết quốc tế như COP26.
- Đốt rác giúp phân hủy chất hữu cơ nhanh, tránh hình thành CH₄.
- Có thể kết hợp thu hồi vật liệu thứ cấp - tro đáy có thể tái sử dụng làm cốt liệu xây dựng, vật liệu nền đường,… Đây là hướng đi quan trọng trong kinh tế tuần hoàn nhằm biến chất thải thành tài nguyên.
- Rút ngắn thời gian xử lý - một tấn rác để được xử lý chỉ trong vài giờ, trong khi chôn lấp kéo dài nhiều năm đến vài chục năm để phân hủy.
c. Các nhược điểm của giải pháp công nghệ xử lý rác bằng đốt rác phát điện
- Chi phí đầu tư và vận hành rất cao
+ Suất đầu tư trung bình cho 1 MW điện tại Việt Nam: 100÷130 tỷ đồng (~4÷5 triệu USD/MW); Tính theo công suất xử lý: 2÷3 tỷ đồng/tấn rác/ngày.
+ Chi phí vận hành cao, trung bình từ 20÷30 USD/tấn rác, chưa bao gồm khấu hao thiết bị xử lý khí thải độc hại.
- Nguy cơ phát sinh ô nhiễm thứ cấp, nếu không xử lý đúng chuẩn, khí thải từ lò đốt có thể chứa: Dioxin và furan - những chất cực độc; Khí acid (SO₂, HCl); Kim loại nặng trong tro bay. Hiện nay, việc giám sát phát thải dioxin/furan ở Việt Nam còn khó khăn do chi phí quan trắc cao và thiếu thiết bị chuyên dụng.
- Yêu cầu kỹ thuật cao, quản lý nghiêm ngặt. Để đảm bảo hiệu quả, hệ thống lò đốt cần: Kiểm soát nhiệt độ ổn định từ 850÷1100°C; Vận hành liên tục 24/7; Xử lý tro, khói, nước thải bằng nhiều công đoạn và kỹ thuật khác nhau; Đội ngũ kỹ thuật được đào tạo chuyên sâu.
2.2. Thực trạng về triển khai các dự án đốt rác thu hồi năng lượng
Trong bối cảnh như đã trình bày ở trên các địa phương không còn sự lựa chọn nào khác là đốt rác để tiêu hủy không thu hồi năng lượng hoặc đốt rác để tiêu hủy và thu hồi năng lượng. Nhiều địa phương (theo tên địa danh trước khi sáp nhập) đã áp dụng cả hai phương thức trên như tại Bắc Ninh, Ninh Bình, Thanh Hóa, Cần Thơ, TP.HCM, …
Tại Hà Nội, dự án Nhà máy điện rác Sóc Sơn được UBND TP Hà Nội chấp thuận chủ trương từ cuối năm 2017, tổng đầu tư 7.000 tỷ đồng. Đây được xem là nhà máy đốt rác lớn nhất Việt Nam với công suất xử lý 4.000 tấn rác khô/ngày, công suất phát điện 75MWh, chủ đầu tư là Công ty Cổ phần Năng lượng Môi trường Thiên Ý. Nhà máy có 5 lò đốt với 3 tổ máy phát. Được triển khai theo 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 có một lò đốt và một tổ máy vận hành với công suất xử lý đốt rác là 1.000 tấn/ngày đêm. Giai đoạn 2 và giai đoạn 3 tiếp tục có thêm 4 lò đốt và hai tổ máy phát điện, vận hành trong năm 2022.
Ngày 01/5/2025, tại Khu xử lý rác Xuân Sơn (Sơn Tây, TP Hà Nội), Nhà máy điện rác Seraphin bắt đầu tiếp nhận hơn 400 tấn rác để xử lý, đốt rác phát điện vận hành thử nghiệm. Dự án Nhà máy điện rác Seraphin do Công ty Cổ phần Công nghệ môi trường xanh Seraphin (thuộc Tập đoàn Amacao) làm chủ đầu tư, vị trí tại Khu xử lý chất thải rắn Xuân Sơn, trên địa bàn khu vực Sơn Tây và Ba Vì. Dự án có công suất xử lý rác thải sinh hoạt 2.250 tấn/ngày đêm; nhà máy ứng dụng công nghệ đốt rác phát điện Martin của Cộng hòa Liên bang Đức công suất phát điện 37Mw. Tổng mức đầu tư của dự án trên 4,8 nghìn tỷ đồng.
Đến nay (2025), tỉnh Bắc Ninh đã đưa vào vận hành 3 nhà máy xử lý chất thải, bao gồm nhà máy công nghệ cao tại xã Ngũ Thái (thị xã Thuận Thành), nhà máy đốt rác phát điện tại xã An Thịnh (huyện Lương Tài) và khu liên hợp xử lý chất thải tại thị xã Quế Võ. Nhà máy điện rác Thăng Long được xây dựng trên diện tích 5ha, có khả năng xử lý 600 tấn rác mỗi ngày đêm và sản xuất 11MW. Tổng mức đầu tư cho dự án này lên tới 1.400 tỷ đồng, tương đương 58,3 triệu USD. Các nhà máy này đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện tình hình xử lý rác thải trên địa bàn tỉnh.
Tại TP Huế, Dự án Nhà máy điện rác Phú Sơn được xây dựng vào tháng 11/2021 trên diện tích quy hoạch khoảng 11,234 ha (bao gồm bãi chôn lấp tro bay, trạm phát điện và các công trình phụ trợ khác) tại xã Phú Sơn, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế do Công ty TNHH Năng lượng môi trường EB (Thừa Thiên - Huế; thuộc tập đoàn Everbright Environment) làm chủ đầu tư, thời gian vận hành là 25 năm (bao gồm cả thời gian xây dựng).
Nhà máy được trang bị lò ghi cơ khí công suất 500 tấn/ngày và tổ máy phát điện tua bin hơi nước áp suất cao 12 MW. Hệ thống khí thải áp dụng “SNCR + khử axit bán khô + khử axit khô + Hệ thống phun than hoạt tính + Bộ lọc bụi túi vải”, công suất xử lý nước rỉ rác là 250 tấn/ngày, sử dụng quy trình “tiền xử lý + IOC kỵ khí + hệ thống O/A + siêu lọc UF + lọc nano NF + thẩm thấu ngược RO + thẩm thấu ngược kiểu đĩa DTRO”. Nhà máy vận hành theo mô hình nhà máy đốt rác - phát điện; sử dụng công nghệ đốt rác bằng lò ghi đa cấp, phát điện phù hợp với Quy chuẩn QCVN 61MT/2016/BTNMT, tiêu chuẩn khí thải đáp ứng theo tiêu chuẩn châu Âu.
Tại Đà Nẵng, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Đà Nẵng đã có thông báo mời các nhà đầu tư đăng ký quan tâm dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt 1.000 tấn, theo phương thức PPP (đối tác công tư) tại Khu liên hợp xử lý chất thải rắn tại bãi rác Khánh Sơn. Dự án dự kiến khởi công trong giai đoạn 2025-2028 và vận hành liên tục trong vòng 25 năm (không bao gồm thời gian lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, lựa chọn nhà đầu tư và thi công xây dựng). Tổng mức đầu tư sơ bộ của dự án vào hơn 2.777 tỷ đồng, toàn bộ nguồn vốn do nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án PPP chịu trách nhiệm thu xếp. Việc thanh toán cho doanh nghiệp dự án PPP sẽ được cụ thể hóa sau khi hợp đồng dự án được phê duyệt. Thành phố cũng bố trí ngân sách để thanh toán cho nhà đầu tư cung cấp dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo hợp đồng. Đơn giá xử lý dự kiến 19,5 USD/tấn (hơn 500.000 đồng/tấn, theo tỷ giá hiện hành), đã bao gồm thuế VAT, chi phí xử lý các chất thải thứ cấp phát sinh.
Dự án Nhà máy điện rác Vĩnh Tân, Bình Thuận (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), với công suất 600 tấn rác/ngày, công suất phát điện 30 MW; Dự án Nhà máy điện rác Phù Ninh, Phú Thọ, với công suất 500 tấn rác/ngày, công suất phát điện 25 MW.
Tại Cần Thơ, Nhà máy đốt rác phát điện Cần Thơ chính thức hoạt động từ tháng 12/2018, thuộc sở hữu của Tập đoàn China Everbright International (Trung Quốc). Theo đại diện Công ty TNHH Năng lượng Môi trường EB Cần Thơ (đơn vị đầu tư xây dựng và quản lý Nhà máy đốt rác phát điện Cần Thơ): Nhà máy có diện tích 5,3ha, lượng rác trung bình tiếp nhận mỗi ngày hơn 453 tấn (chiếm khoảng 70%) lượng rác sinh hoạt thải ra hằng ngày của TP Cần Thơ.
Tại TP.HCM, thống kê năm 2023, lượng rác thải sinh hoạt lên đến 9.800 tấn/ngày, trong những ngày cao điểm như lễ, Tết, lượng rác thải tăng lên hơn 11.000 tấn/ngày. Trong khi đó, mục tiêu xử lý, tái chế rác thải kết hợp thu hồi năng lượng đạt 80% vào năm 2025 và 100% vào năm 2030 mà HĐND TP.HCM đặt ra, có thể coi là không đạt được.
Hiện nay, Tập đoàn BCG Energy đang triển khai xây dựng Nhà máy điện rác tại Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Tây Bắc, Củ Chi với đoạn 1 có công suất xử lý rác là 2.000 tấn/ngày và công suất phát điện 70 MW, dự kiến hoàn thành cuối năm 2025. Giai đoạn 2 với công suất xử lý 5.200 tấn rác/ngày và công suất phát điện lên tới 130 MW dự kiến hoàn thành trong năm 2026.
Trong khi đó, theo báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP.HCM của UBND thành phố về chuyển đổi công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt có thu hồi năng lượng, tính đến cuối năm 2024 đã có 5 đơn vị đăng ký thực hiện chuyển đổi công nghệ đốt rác phát điện với 5 nhà máy gồm Công ty Cổ phần Vietstar, Công ty Cổ phần đầu tư Tâm Sinh Nghĩa, Công ty TNHH xử lý chất thải Việt Nam (VWS), Công ty Cổ phần Tasco, Công ty TNHH MTV môi trường đô thị TP.HCM (Citenco).
3. Những thuận lợi và khó khăn, rào cản đối với các dự án đốt rác thu hồi năng lượng
3.1. Những thuận lợi và tiềm năng cho các dự án đốt rác thu hồi năng lượng
Việc xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo Điều 78 Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đã quy định: “Nhà nước khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư và cung cấp dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt; khuyến khích đồng xử lý chất thải rắn sinh hoạt”. Do vậy, việc đầu tư vào các dự án điện rác tại Việt Nam đang ngày càng thu hút sự quan tâm của cả nhà đầu tư trong nước và quốc tế, Cụ thể là nhờ vào những thuận lợi và tiềm năng như sau đây:
a. Chính sách ưu đãi đầu tư các dự án điện rác
- Chính sách hỗ trợ từ Nhà nước: Luật Điện lực 2024 và các thông tư như Thông tư 20/2024/TT-BCT của Bộ Công thương đã đưa ra cơ chế giá mua điện ưu đãi kéo dài 20 năm cho điện rác Chính phủ khuyến khích xử lý rác bằng công nghệ hiện đại, giảm chôn lấp, hướng tới phát triển bền vững và kinh tế tuần hoàn.
- Hạ tầng và công nghệ đang được cải thiện: Nhiều nhà máy điện rác đã đi vào hoạt động như Sóc Sơn (Hà Nội), Vĩnh Tân (Bình Thuận nay thuộc tỉnh Lâm Đồng), Phù Ninh (Phú Thọ)… với công suất xử lý hàng nghìn tấn rác/ngày.
- Quan tâm mạnh mẽ từ nhà đầu tư quốc tế: Các tập đoàn lớn từ Trung Quốc, Đức, Đài Loan… đã và đang đầu tư vào các dự án điện rác tại Việt Nam, như Everbright Environment, Thiên Doanh, Asia New Generation.
- Điện rác thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo quy định pháp luật Việt Nam, được hưởng các chính sách như: (i) Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; (ii) Miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, công nghệ xử lý rác hiện đại; (iii) Hỗ trợ tiếp cận đất đai, giảm tiền thuê đất trong thời gian đầu tư.
b. Ưu đãi về giá điện
- Cơ chế giá điện FIT (Feed-in Tariff) cho điện rác đã được ban hành, đảm bảo mức giá mua điện ổn định trong 20 năm.
- Quyết định số 1251/QĐ-BCT ngày 06/5/2025 của Bộ Công Thương về việc phê duyệt khung giá phát điện nhà máy điện chất thải năm 2025. Theo đó, mức giá tối đa của khung giá phát điện năm 2025 áp dụng cho loại hình nhà máy điện rác (chất thải rắn) quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 Thông tư số 09/2025/TT-BCT ngày 01/02/2025 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục, phương pháp xác định, phê duyệt khung giá phát điện; quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục xây dựng, phê duyệt khung giá nhập khẩu điện là 2.575,18 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng). Mức giá này thay thế mức giá cố định 10,05 cent Mỹ/kWh từng được quy định tại Quyết định 31/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ từ năm 2014.
Việc điều chỉnh khung giá điện và cập nhật Quy hoạch điện VIII đã đưa điện rác vào danh mục các loại hình cần ưu tiên phát triển. Bởi lẽ, bên cạnh việc tạo ra nguồn năng lượng tái tạo, điện rác còn góp phần giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường đô thị, một vấn đề đang ngày càng trở nên bức xúc tại nhiều địa phương.
c. Hình thức đầu tư linh hoạt
Có thể triển khai dự án điện rác theo các hình thức:
- Đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư: Đối tác công tư (PPP),
- Chuyển đổi công nghệ với các dự án xử lý rác hiện có.
d. Tiềm năng phát triển
- Nguồn rác thải dồi dào và tăng nhanh: Việt Nam phát sinh hàng triệu tấn rác thải sinh hoạt mỗi năm, đặc biệt tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng… Đây là nguồn nguyên liệu ổn định cho các nhà máy điện rác.
- Giải quyết đồng thời vấn đề môi trường và năng lượng: Điện rác giúp giảm lượng rác chôn lấp, giảm phát thải khí nhà kính, đồng thời tạo ra nguồn điện tái tạo.
- Thị trường rộng mở: Với hơn 20 dự án điện rác đang được triển khai hoặc vận hành, tiềm năng mở rộng là rất lớn, đặc biệt tại các tỉnh thành chưa có nhà máy xử lý hiện đại.
- Công nghệ tiên tiến: Các công nghệ như nhiệt phân, khí hóa… đang được áp dụng, giúp xử lý rác không cần phân loại, giảm khí thải độc hại.
- Hướng tới mục tiêu phát triển xanh: Điện rác là một phần trong chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, giúp Việt Nam đạt các cam kết về môi trường và năng lượng tái tạo.
3.2. Những khó khăn và rào cản đối với những dự án điện rác
Dù có tiềm năng lớn, các dự án điện rác tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn và rào cản, khiến quá trình triển khai bị chậm hoặc đình trệ. Dưới đây là tổng hợp những thách thức chính:
a. Rào cản pháp lý và thủ tục hành chính
- Thiếu hành lang pháp lý rõ ràng: Hiện chưa có cơ chế riêng cho việc lựa chọn nhà đầu tư và ký kết hợp đồng dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt, vốn là đặc thù của điện rác.
- Quy trình đấu thầu phức tạp: Nhiều dự án bị hủy do quy trình đấu thầu kéo dài hoặc không thể thực hiện theo hình thức đặt hàng do chưa đủ cơ sở pháp lý.
- Chưa phân cấp đủ cho địa phương: Việc phê duyệt dự án, cấp phép môi trường, xây dựng… vẫn phụ thuộc nhiều vào Trung ương, gây chậm trễ.
- Sự phức tạp trong các thủ tục hành chính là một trong những nguyên nhân chính khiến các dự án điện rác kéo dài từ 5-8 năm hoặc lâu hơn. Có thể nêu ra đây một vài ví dụ điển hình:
Tại TP.HCM, mặc dù áp lực xử lý rác thải sinh hoạt là rất lớn, các dự án điện rác do Tâm Sinh Nghĩa, Vietstar, Tasco... đầu tư đều bị kéo dài tiến độ đáng kể so với kế hoạch ban đầu, chủ yếu do vướng mắc trong thủ tục đầu tư và phê duyệt. Tương tự, tại TP Đà Nẵng, bãi rác Khánh Sơn đang trong tình trạng quá tải nghiêm trọng, nhu cầu xây dựng một nhà máy điện rác là cấp thiết.
Tuy nhiên, dù đã mời gọi các nhà đầu tư trong nhiều năm, đến nay thành phố vẫn chưa ký kết được dự án nào. Nhà máy điện rác Phú Thọ tại xã Trạm Thản đã kéo dài suốt 8 năm nhưng vẫn chưa hoàn thành xây dựng.
Tại Thanh Hóa, dự án điện rác Bỉm Sơn đã xin gia hạn nhiều lần trong 7 năm qua, song vẫn chưa thể đưa vào vận hành. Riêng tại Hà Nội, đa số các dự án điện rác đều chậm tiến độ, trong đó điển hình là Dự án xử lý rác thải Đông Anh, được đầu tư xây dựng tại xã Việt Hùng, huyện Đông Anh. Dự án này hướng đến xử lý rác thải sinh hoạt, công nghiệp, y tế và các loại rác thải khác bằng công nghệ đốt plasma, một công nghệ tiên tiến, nhưng cũng đòi hỏi nguồn lực lớn và năng lực kỹ thuật cao. Nhà máy có công suất 500 tấn/ngày-đêm, tổng mức đầu tư 768,438 tỉ đồng. Mặc dù đã được triển khai từ năm 2011, nhưng đến nay, dự án vẫn chưa hoàn thành, gây lãng phí tài nguyên đất đai và vốn đầu tư. ...
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý thêm rằng việc kéo dài thời gian của các dự án điện rác không chỉ vì các lý do như đã kể trên mà còn phải kể đến các lý do khác từ phía nhà đầu tư như năng lực tài chính, khả năng về công nghệ, trình độ chuyên môn quản lý của doanh nghiệp .... và các nguyên nhân khác.
b. Chi phí đầu tư cao
- Chi phí xây dựng nhà máy điện rác rất lớn, đặc biệt là hệ thống xử lý khí thải, nước rỉ rác, tro bay… khiến thời gian hoàn vốn kéo dài.
- Khó tiếp cận vốn vay ưu đãi: Do chưa có cơ chế tín dụng xanh rõ ràng cho điện rác, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong huy động vốn.
- Chi phí về quan trắc môi trường. Nhiều chuyên gia môi trường cho biết, việc đo giám sát tổng dioxin/furan có thể phát sinh từ lò đốt rác ở Việt Nam hiện nay rất khó khăn do thiếu trang thiết bị và đắt đỏ (khoảng 23 triệu đồng/mẫu khí thải với điều kiện quan trắc nhiều mẫu cùng lúc và thường xuyên); đa số nơi chỉ định kỳ đo 1 năm/lần.
Sau đây là tổng hợp ý kiến của các chuyên gia về thủ tục hành chính liên quan đến các dự án đầu tư phát triển điện rác.


Hiện nay, suất đầu tư cho nhà máy điện rác tại Việt Nam dao động khá lớn tùy theo quy mô, công nghệ sử dụng, địa điểm triển khai và đặc tính của rác thải. Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến suất đầu tư gồm: Công nghệ đốt (RDF, plasma, lò ghi ...). hệ thống xử lý khí thải, mức độ tự động hóa, vị trí địa lý và chi phí giải phóng mặt bằng .... Dựa theo công bố của một số dự án nhà máy điện rác như Nhà máy điện rác Thăng Long (Bắc Ninh), điện rác Củ Chi (TP.HCM) - BCG Energy, điện rác Tâm Sinh Nghĩa (TP.HCM) .... thì suất đầu tư trung bình cho nhà máy điện rác tại Việt Nam hiện nay thường nằm trong khoảng: 100-130 tỷ đồng/MW điện, 2÷3 tỷ đồng/tấn rác/ngày.
c. Công nghệ và kỹ thuật
- Yêu cầu công nghệ cao: Điện rác đòi hỏi công nghệ hiện đại để xử lý triệt để rác hỗn hợp mà không cần phân loại, đồng thời đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, đặc biệt trong xử lý khí thải của nhà máy.
- Hiệu suất chuyển đổi năng lượng còn thấp: Dù tiên tiến, hiệu suất điện rác hiện chỉ đạt khoảng 25÷30%, thấp hơn so với các nguồn năng lượng khác.
d. Vấn đề về nguồn rác và phân loại
- Rác thải chưa được phân loại tại nguồn: Điều này làm tăng chi phí xử lý và ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành nhà máy.
- Chất lượng rác không ổn định: Thành phần rác thay đổi theo mùa, khu vực… gây khó khăn cho thiết kế và vận hành công nghệ. Đặc biệt rác có độ ẩm lớn, tỷ lệ nhiệt trị thấp điều này ảnh hưởng đến khả năng sinh nhiệt, công suất phát điện.
e. Thiếu cơ chế đảm bảo đầu ra
- Chưa có cam kết dài hạn về lượng rác cung cấp từ phía địa phương, khiến nhà đầu tư lo ngại về tính ổn định của nguyên liệu đầu vào.
- Giá mua điện chưa hấp dẫn: Mức giá FIT theo Quyết định số 1251/QĐ-BCT ngày 6/5/2025 của Bộ Công Thương về việc phê duyệt khung giá phát điện nhà máy điện chất thải năm 2025 hiện hành chưa đủ để đảm bảo lợi nhuận cho nhà đầu tư, nhất là với chi phí vận hành cao, (theo các chuyên gia tại Trung Quốc, mức giá 6 nhân dân tệ/kWh tương đương 10,05 UScents/kWh được ban hành từ những năm 1980, đến nay đã hơn 40 năm vẫn ổn định theo giá FIT, không thay đổi. Nhờ vậy, Trung Quốc trong 40 năm qua đã giải quyết được cơ bản vấn đề môi trường trong xử lý rác thải sinh hoạt và đã đầu tư được hơn 1.500 nhà máy đốt rác phát điện trên toàn quốc)
- Để các dự án điện rác đạt được điểm hòa vốn và vận hành hiệu quả, cần có chính sách giá điện hỗ trợ kết hợp với cơ chế ưu đãi về giá xử lý rác thải.
4. Kết luận
Giải pháp công nghệ thiêu đốt chất thải rắn thu hồi năng lượng hay công nghệ điện rác là lựa chọn tối ưu trong giai đoạn hiện nay, khi mà các loại hình công nghệ xử lý khác không đạt hiệu quả hoặc đạt hiệu quả thấp cả về kinh tế lẫn môi trường. Giải pháp công nghệ đốt rác phát điện phù hợp với việc coi rác là tài nguyên, thực hiện nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh. Đầu tư phát triển công nghệ điện rác cũng là xu thế phổ biến hiện nay ở các nước trên thế giới.
Tại Việt Nam, tiềm năng phát triển các dự án đốt rác phát điện là rất lớn nhờ vào khối lượng chất thải rắn sinh hoạt ổn định, có xu hướng gia tăng hàng năm, cùng với chính sách ưu tiên từ Nhà nước đối với lĩnh vực xử lý chất thải rắn nói chung và công nghệ điện rác nói riêng.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc triển khai các dự án điện rác vẫn còn gặp nhiều rào cản, đặc biệt là những vướng mắc liên quan đến cơ chế chính sách và thủ tục hành chính, như đã được nhóm tác giả phân tích ở phần trên.
Sau đây, nhóm tác giả xin đúc kết một số khuyến nghị chính nhằm tháo gỡ những trở ngại này và thúc đẩy phát triển công nghệ điện rác tại Việt Nam:
- Nhiều chính sách ưu đãi trong lĩnh vực điện rác còn phân tán, thiếu cụ thể nên khó thực hiện tại các địa phương như đấu nối vào lưới điện, quy trình miễn giảm thuế đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, vay vốn ưu đãi ….
- Bổ sung các điều kiện chi tiết về áp dụng hình thức đặt hàng, thời điểm và thời hạn đặt hàng, các nguyên tắc về điều chỉnh giá dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt … áp dụng riêng cho dự án điện rác.
- Ban hành cơ chế đặc thù và văn bản quy phạm quy định về các hình thức mà cơ quan quản lý địa phương có thể cam kết về việc cung cấp khối lượng rác đầu vào cho các dự án điện rác đã được phê duyệt phù hợp với các quy định có liên quan.
Ban hành danh mục kỹ thuật hiện có tốt nhất và xây dựng hướng dẫn về xử lý tro đáy, tro bay của lò đốt chất thải;
Phân cấp cho địa phương thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng và môi trường; thiết kế lại Bảng danh mục dự án điện rác trong Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII theo hướng mới, không phần bổ trước công suất cho từng địa phương...
- Rà soát và hoàn thiện quy hoạch quản lý chất thải ở cấp tỉnh, vùng và liên vùng, nhằm phân bổ hợp lý các cơ sở xử lý và đảm bảo luồng thu gom, vận chuyển rác đến các khu xử lý tập trung. Điều này đảm bảo các dự án điện rác được phân bổ đúng trong quy hoạch tổng thể và phù hợp với quy hoạch quản lý chất thải rắn sinh hoạt, bài toán về đảm bảo đầu vào cho nhà máy sẽ được giải quyết bền vững.
- Rà soát lại các văn bản liên quan đến công nghệ điện rác để điều chỉnh cho phù hợp với mô hình cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương theo 2 cấp được thực hiện từ 1/7/2025.
* Tiêu đề do Tòa soạn đặt - Mời xem file PDF tại đây
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Quốc gia. Hà Nội.
[2]. Bộ Tài nguyên và Môi trường. (2020). Luật số 72/2020/QH14, Luật Bảo vệ môi trường. Hà Nội.
[3]. Bộ Khoa học và Công nghệ, 2021. Một số công nghệ lò đốt chất thải rắn phát điện Trung tâm Thống kê dữ liệu và Phân tích sáng chế, Viện Nghiên cứu sáng chế và Khai thác công nghệ.
[4]. Chính phủ (2022), Nghị định 08/2022/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, Hà Nội.
[5]. Phạm Ngọc Đăng & Trần Thị Minh Nguyệt. (2024). Kinh nghiệm đốt rác phát điện trên thế giới và đề xuất giải pháp cho Việt Nam. Tạp chí Môi trường, số 8/2024.
[6]. Cao Tiến Phú và cộng sự. (2022). Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu sử dụng tro, xỉ của lò đốt chất thải rắn sinh hoạt làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng
[7]. Nguyễn Quang. (2018). Quản lý chất thải rắn: Vấn đề nóng của đô thị Việt Nam. Tạp chí Nhịp cầu và Đầu tư
[8]. Dương Thị Thanh Xuyến (2024). Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020. Hội thảo khoa học: Công nghệ thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt hướng tới phát triển xanh. TP.HCM tháng 11/2024.
[9]. Thông tin, hình ảnh trên báo: Kinh tế Sài gòn olline, Lao động, Dân trí, Công Thương, Xây dựng, mạng Internet.

Việc phát triển các nhà máy đốt rác phát điện (Waste-to-Energy - WTE) đang được xem là một giải pháp chiến lược, không chỉ nhằm giải quyết hiệu quả vấn đề rác thải đô thị, mà còn tạo ra nguồn năng lượng tái tạo, góp phần giảm ô nhiễm và thúc đẩy sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả hơn. 

