Quy hoạch - kiến trúc

Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam: Quan điểm và những nhiệm vụ trọng tâm

Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam: Quan điểm và những nhiệm vụ trọng tâm

Tạp chí Xây dựng - Bộ xây dựngPhát triển nền kiến trúc Việt Nam hiện đại, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc; bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị kiến trúc truyền thống, tiếp thu chọn lọc tinh hoa kiến trúc thế giới, tạo nên phong cách riêng của kiến trúc Việt Nam.

Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 vừa được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt tại Quyết định 1246/QĐ-TTg ngày 19/7/2021, với mục tiêu tiếp tục xây dựng phát triển kiến trúc Việt Nam hiện đại, bền vững, giàu bản sắc, đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển văn hóa trở thành nền tảng tinh thần trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gắn với bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

1. Tình hình thực tiễn và nguyên nhân

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành và lãnh đạo tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu phát triển kiến trúc Việt Nam. Năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 112/2002/QĐ-TTg về việc phê duyệt Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2020 (Định hướng 112). 

Sau gần 20 năm thực hiện Định hướng 112, toàn quốc đã đạt được nhiều kết quả, tác động tích cực đến kinh tế - xã hội, đặc biệt là thành tựu phát triển hệ thống đô thị, góp phần hình thành nền tảng và động lực thúc đẩy phát triển đời sống văn hóa xã hội, làm thay đổi diện mạo từ các đô thị đến nông thôn. Những khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu du lịch, kiến trúc nông thôn mới trên cả nước được thực hiện khá tốt về chất lượng công trình cũng như đồng bộ hoá hạ tầng kỹ thuật theo yêu cầu sử dụng đã góp phần tạo lập nên vẻ đẹp và bản sắc kiến trúc Việt Nam hiện đại. 

Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu, nền kiến trúc Việt Nam cũng còn một số hạn chế. Kiến trúc phát triển đa dạng nhưng chất lượng còn thấp, kiến trúc chưa gắn với nhu cầu sử dụng cũng như nguồn lực thực hiện và còn thiếu tính khả thi, gây lãng phí nguồn lực của đất nước. 

Việc quản lý nhà nước lĩnh vực kiến trúc chưa thể hiện được vị trí, vai trò là công cụ quản lý của nhà nước để điều hành phát triển kinh tế xã hội, thiếu sự gắn kết trong mục tiêu, định hướng phát triển và giải pháp thực hiện. Kiến trúc chưa đổi mới phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế. Việc tổ chức lập, phê duyệt Quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị, tổ chức thi tuyển, tuyển chọn phương án thiết kế kiến trúc công trình xây dựng còn buông lỏng, chưa xử lý kịp thời và thiếu kiên quyết trong chỉ đạo điều hành. 

Đô thị hóa nhanh kiến tạo hình ảnh các khu đô thị mới với kiến trúc hiện đại nhưng thiếu tính nối kết không gian với đô thị hiện hữu, thiếu tính trật tự, có sự đa dạng nhưng chưa thống nhất và bản sắc riêng. Việc điều chỉnh quy hoạch cục bộ, còn tùy tiện và xây nhiều công trình cao tầng sai phép dẫn đến phá vỡ cấu trúc chung đô thị. Còn những công trình tuy lớn về quy mô nhưng thiếu sự đầu tư, sáng tạo về hình ảnh công trình mang tính thẩm mỹ kiến trúc cao, chưa truyền tải được đặc trưng kiến trúc của dân tộc. Không gian kiến trúc cảnh quan, trang trí đô thị, tượng đài và quảng trường, cây xanh không đồng bộ với cấp độ của đô thị hạng I, II và đặc biệt như Hà Nội, TP.HCM. 

Khu vực nông thôn việc xây dựng khá tuỳ tiện, chưa có định hướng xây dựng hình thái kiến trúc cho từng vùng, dẫn đến kiến trúc pha tạp, bê tông hóa nhà ở nông thôn, cấu trúc làng xã đã biến dạng, đang làm mất dần bản sắc nông thôn Việt Nam. Đối với các nhiên cứu hệ thống nhà ở có kiến trúc nông thôn phù hợp khí hậu miền núi và nông thôn, ven biển miền trung chưa có hiệu quả cao. 

Việc bảo tồn, tôn tạo các di sản kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên tại khu vực nông thôn trong thời gian qua tuy đã được chú ý, nhưng vẫn chưa được tiến hành thường xuyên và thiếu hệ thống, đôi khi do phát triển kinh tế nên nhiều di sản kiến trúc gắn với lịch sử và cảnh quan đã bị xâm phạm, hoặc cải tạo kiến trúc sai gốc làm mai một các giá trị văn hóa và lịch sử vốn có của các công trình theo thời gian.

Đội ngũ sáng tác kiến trúc nước ta thời gian qua chủ yếu phát triển theo mục tiêu ngắn hạn, thiếu tính bền vững; nội lực của giới kiến trúc còn yếu, phụ thuộc nhiều vào các chủ đầu tư; trình độ lý luận, phê bình nghệ thuật và công nghệ thiết kế còn lạc hậu, chậm được đổi mới; chất lượng sản phẩm, năng suất lao động sáng tác kiến trúc còn thấp chưa theo kịp thế giới. 

Theo thống kê của Hội Kiến trúc sư Việt Nam, hiện nay nước ta có khoảng hơn 20 nghìn kiến trúc sư nhưng chất lượng kiến trúc sư hiện nay ở Việt Nam chưa đồng đều và còn một số hạn chế để có thể hòa nhập thị trường hành nghề quốc tế.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Trình độ thẩm mỹ kiến trúc và nhận thức về quản lý và phát triển kiến trúc chưa cao. Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ cập các tri thức về văn hoá, kiến trúc chưa làm được nhiều và còn thiếu những biện pháp thiết thực. Nhà nước còn thiếu cơ chế tạo điều kiện để cho dân tham gia vào quá trình tạo lập, phát triển kiến trúc và bảo vệ môi trường sống. 

Trong đội ngũ sáng tác kiến trúc còn thiếu nhân tài, thiếu những khuynh hướng có tầm chiến luợc. Đội ngũ chuyên gia hành nghề thiết kế kiến trúc chưa được trang bị những kiến thức cần thiết về pháp luật và các thông tin cập nhật về tiến bộ khoa học kỹ thuật có liên quan đến nghề nghiệp chuyên môn và về một phương pháp thiết kế kiến trúc mới. Một bộ phận kiến trúc sư còn coi trọng lợi ích kinh tế thuần tuý, chưa đề cao đạo đức nghề nghiệp, nên đã chạy theo thị hiếu thị trường.

Công tác đào tạo kiến trúc sư chưa được đổi mới. Chất lượng đào tạo kiến trúc sư chưa cao, vẫn nặng nề về số lượng. Nội dung chương trình giảng dạy còn chậm được cải tiến; trình độ đội ngũ cán bộ giảng dạy còn hạn chế; cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy còn thiếu thốn; chưa coi trọng đào tạo chuyên gia làm công tác nghiên cứu, lý luận, phê bình và đào tạo lại cho các chuyên gia đã kinh qua công tác.

Quản lý kiến trúc còn có những biểu hiện chưa sát với tình hình thực tiễn, thiếu định hướng phát triển lâu dài và thiếu văn bản quy phạm pháp luật, khung và các cơ chế, chính sách tạo điều kiện phát triển kiến trúc. Quy trình kiểm soát phát triển kiến trúc lồng ghép trong quản lý đầu tư và xây dựng còn chưa hợp lý. Tổ chức bộ máy quản lý kiến trúc, quy hoạch ở các cấp, các ngành còn thiếu hệ thống. Năng lực cán bộ, công chức quản lý kiến trúc và quy hoạch ở các cấp nhìn chung chưa cao.

2.    Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050

2.1    Về quan điểm

Phát triển nền kiến trúc Việt Nam hiện đại, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc; bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị kiến trúc truyền thống, tiếp thu chọn lọc tinh hoa kiến trúc thế giới, tạo nên phong cách riêng của kiến trúc Việt Nam; đồng thời quảng bá kiến trúc Việt Nam ra thế giới.

Kiến trúc góp phần tạo lập môi trường sống bền vững; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng; phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động kiến trúc nhằm huy động các nguồn lực đầu tư để phát triển kiến trúc; khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật nhằm phát triển kiến trúc Việt Nam hội nhập tích cực với kiến trúc trong khu vực và thế giới.

2.2    Các nhiệm vụ trọng tâm

Xây dựng pháp luật, cơ chế chính sách

Rà soát, đánh giá, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoàn thiện thể chế pháp luật về kiến trúc, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất đối với các văn bản pháp luật liên quan; tạo môi trường bình đẳng, minh bạch, công bằng nhằm khuyến khích hành nghề kiến trúc sư trong nước; từng bước xã hội hóa trong việc quản lý hành nghề kiến trúc, chuẩn hóa các điều kiện hành nghề kiến trúc theo hướng phù hợp với các thông lệ quốc tế.

Tiếp tục xây dựng hoàn thiện và triển khai hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về kiến trúc; từng bước hoàn thiện các quy định, biểu phí dịch vụ kiến trúc, đảm bảo tính cạnh tranh về dịch vụ kiến trúc trong khu vực và quốc tế.

Hoàn thiện cơ chế chính sách trong công tác đào tạo, lý luận, phê bình, phản biện, giám sát về hoạt động kiến trúc; xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi cho việc bảo tồn, phát huy, bản sắc văn hóa dân tộc trong kiến trúc và bảo vệ các công trình kiến trúc có giá trị.

Bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc

Nghiên cứu, xây dựng các chương trình kế hoạch, đề án để bảo tồn, phát huy và quảng bá các giá trị kiến trúc truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc; xây dựng hệ thống dữ liệu kiến trúc về giá trị lịch sử, văn hóa của các dân tộc Việt Nam; các địa phương hoàn thành việc đánh giá và triển khai xây dựng Danh mục công trình kiến trúc có giá trị; có giải pháp phù hợp lưu trữ, trưng bày các giá trị, bản sắc kiến trúc Việt Nam.

Lý luận, phê bình kiến trúc

Phát triển hệ thống lý luận, phê bình kiến trúc gắn lý thuyết với thực tiễn và giá trị bản sắc dân tộc, tính bản địa trong kiến trúc; đẩy mạnh phản biện xã hội thông qua phê bình kiến trúc; xây dựng bản sắc kiến trúc mới của Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa và cách mạng khoa học kỹ thuật.

Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển hệ thống lý luận phê bình, khoa học công nghệ trong lĩnh vực kiến trúc để xây dựng đội ngũ kiến trúc sư có đủ đức, đủ tài, có bản lĩnh nghề nghiệp; đổi mới công tác quy hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân lực kiến trúc, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế; hoàn thiện quy hoạch và đầu tư hệ thống các cơ sở đào tạo kiến trúc công lập đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực trong lĩnh vực kiến trúc giai đoạn mới.

Cần coi trọng và có chính sách kịp thời để tiếp cận hội nhập quốc tế, áp dụng khoa học công nghệ hiện đại, khuyến khích gia nhập thị trường kiến trúc đa quốc gia; tạo khả năng cạnh tranh chuyên nghiệp cho kiến trúc sư Việt Nam từ chính sách xây dựng con người làm kiến trúc.

Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực kiến trúc, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong hoạt động kiến trúc; chú trọng đào tạo đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, kiến trúc sư công tác ở những vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo.

Khoa học công nghệ

Ưu tiên nghiên cứu ứng dụng chuyển đổi số trong kiến trúc; các công nghệ kỹ thuật xây dựng theo xu hướng bền vững, công trình xanh, thông minh, tiết kiệm năng lượng, tiên tiến, hiện đại; ưu tiên triển khai các dự án nghiên cứu khoa học công nghệ trọng điểm nhằm phát triển lĩnh vực kiến trúc trong công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Thúc đẩy việc nghiên cứu, xây dựng và áp dụng mẫu thiết kế kiến trúc cho các công trình công cộng và nhà ở tại nông thôn, đảm bảo yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai; xây dựng hệ thống mẫu nhà ở xã hội bảo đảm cho người dân có điều kiện tiếp cận, lựa chọn công trình kiến trúc an toàn, hiệu quả, hợp lý.

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về kiến trúc và quản lý hành nghề kiến trúc, kết hợp với các công nghệ hỗ trợ cho quản lý và phát triển hoạt động kiến trúc trên toàn quốc.

Hợp tác và hội nhập quốc tế

Tích cực tham gia các trào lưu quốc tế về kiến trúc được Liên hiệp hội Kiến trúc sư quốc tế (UIA) chủ trương hướng đến như kiến trúc xanh, kiến trúc bền vững, kiến trúc tiết kiệm năng lượng, kiến trúc ứng phó thiên tai, kiến trúc vì cộng đồng.

Chủ động hội nhập quốc tế, tham gia tích cực, hiệu quả các hoạt động trong khuôn khổ các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong lĩnh vực kiến trúc và các chủ trương do Hội đồng Kiến trúc ASEAN, Hội đồng Kiến trúc sư châu Á (ARCASIA), Liên hiệp hội Kiến trúc sư Quốc tế... khởi xướng và phát động; tích cực tham gia các thỏa thuận công nhận lẫn nhau trong hành nghề kiến trúc song phương và đa phương (APEC, ASEM, CP TPP) tạo điều kiện cho kiến trúc sư Việt Nam tham gia hành nghề tại các nước trên thế giới.

Nguồn lực, tài chính

Đẩy mạnh, huy động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư để phát triển kiến trúc Việt Nam.

Nhà nước đầu tư, hỗ trợ phát triển hệ thống mẫu thiết kế nhà ở cho các vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có nguy cơ cao bị ảnh hưởng bởi thiên tai; tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở nghiên cứu, đào tạo về kiến trúc, tăng cường năng lực hệ thống quản lý hoạt động kiến trúc. Chú trọng đầu tư vào các chương trình, đề án; ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực kiến trúc được xác định cụ thể trong định hướng.

3. Kết luận

Đất nước Việt Nam giàu, đẹp, vững bền như ước muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và để phát triển nền kiến trúc Việt Nam hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc cần sự tham gia tổng lực, quyết tâm của các cơ quan quản lý nhà nước cho đến tổ chức, cá nhân trong xã hội từ trung ương đến địa phương. Đặc biệt là việc thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ, đáp ứng đủ nguồn lực, nhất là đối với việc tạo lập nền móng vững chắc cho phát triển nền kiến trúc: 

Hoàn thiện các quy định pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến lĩnh vực kiến trúc; Xây dựng chương trình công tác tuyên truyền giáo dục nghệ thuật, thẩm mỹ kiến trúc, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc cho cộng đồng xã hội; Đào tạo, đổi mới nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực kiến trúc và nguồn nhân lực kiến trúc sư theo xu hướng hội nhập quốc tế; Xây dựng, phát triển hệ thống lý luận, phê bình kiến trúc Việt Nam, hoàn chỉnh các quy chuẩn, tiêu chuẩn trong lĩnh vực kiến trúc; Chuyển đổi số trong lĩnh vực kiến trúc, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch kiến trúc.

Đồng thời, các cấp chính quyền cần quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ, kiến tạo việc thúc đẩy xã hội hóa, huy động các nguồn lực phát triển kiến trúc Việt Nam, nâng cao chất lượng thiết kế, đảm bảo phát triển bền vững.

Ý kiến của bạn