Quản lý vật liệu xây dựng theo mức độ rủi ro:

Doanh nghiệp cần thay đổi tư duy quản trị

11:28 19/07/2026
Thông tư số 41/2026/TT-BXD của Bộ Xây dựng không chỉ thay đổi cách quản lý chất lượng VLXD mà còn đánh dấu bước chuyển từ kiểm soát sản phẩm sang quản lý theo mức độ rủi ro. Chính sách mới đặt ra yêu cầu doanh nghiệp đổi mới tư duy quản trị chất lượng, minh bạch dữ liệu và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập.
Doanh nghiệp cần thay đổi tư duy quản trị
Ảnh minh họa tạo bởi AI.

Bước chuyển trong tư duy quản lý

Trong nhiều năm qua, công tác quản lý chất lượng vật liệu xây dựng (VLXD) tại Việt Nam chủ yếu dựa trên phương thức tiền kiểm. Sản phẩm trước khi lưu thông hoặc đưa vào công trình phải đáp ứng các yêu cầu về chứng nhận, công bố hợp quy và các thủ tục kiểm tra theo quy định. Cách tiếp cận này góp phần kiểm soát chất lượng hàng hóa trên thị trường, song cũng bộc lộ một số hạn chế khi số lượng chủng loại VLXD ngày càng đa dạng, chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp và yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng cao.

Trong bối cảnh đó, Thông tư số 41/2026/TT-BXD ngày 26/6/2026 của Bộ Xây dựng về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa VLXD được ban hành không chỉ để thay thế một số quy định kỹ thuật mà còn phản ánh sự thay đổi trong phương thức quản lý. Theo quy định mới, sản phẩm, hàng hóa VLXD được phân loại thành ba nhóm rủi ro: Thấp, trung bình và cao. Trên cơ sở mức độ rủi ro, cơ quan quản lý áp dụng các yêu cầu tương ứng về công bố hợp quy, kiểm tra chất lượng và giám sát trong quá trình lưu thông. Đây là mô hình quản lý dựa trên đánh giá rủi ro (risk-based management), tập trung nguồn lực vào những nhóm sản phẩm có khả năng ảnh hưởng lớn đến an toàn công trình và lợi ích cộng đồng, thay vì áp dụng cùng một cơ chế đối với mọi loại vật liệu.

Việc chuyển sang quản lý theo mức độ rủi ro cũng phù hợp với tinh thần cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước được Chính phủ đặt ra trong nhiều năm gần đây. Thay vì gia tăng tiền kiểm, cơ quan quản lý chuyển trọng tâm sang hậu kiểm, kết hợp phân tích dữ liệu, đánh giá nguy cơ và kiểm soát theo mức độ tuân thủ của doanh nghiệp.

Đặt trọng tâm vào năng lực kiểm soát chất lượng của doanh nghiệp

Điểm đáng chú ý là Thông tư 41 không chỉ quy định doanh nghiệp phải làm gì, mà còn thay đổi cách Nhà nước nhìn nhận hoạt động quản lý chất lượng VLXD.

Theo mô hình cũ, chất lượng sản phẩm được đánh giá chủ yếu thông qua hồ sơ chứng nhận và kết quả thử nghiệm tại từng thời điểm. Trong khi đó, quản lý theo rủi ro đặt trọng tâm vào năng lực kiểm soát chất lượng của doanh nghiệp trong suốt quá trình sản xuất. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không thể chỉ hoàn thiện hồ sơ để đáp ứng yêu cầu pháp lý mà phải xây dựng hệ thống quản trị chất lượng có khả năng vận hành ổn định và minh bạch.

Nói cách khác, thay vì quản lý đầu ra, chính sách mới hướng tới kiểm soát quá trình tạo ra chất lượng. Đây cũng là nguyên tắc được áp dụng rộng rãi trong các hệ thống quản lý tiên tiến như ISO 9001, ISO 14001 hay các mô hình quản trị rủi ro trong sản xuất công nghiệp.

Sự thay đổi của Bộ Xây dựng không phải là một xu hướng riêng lẻ. Trên thế giới, quản lý dựa trên rủi ro đã được nhiều nền kinh tế áp dụng trong các lĩnh vực có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn như thực phẩm, thiết bị y tế, hóa chất, sản phẩm công nghiệp và VLXD.

Thay vì kiểm tra đồng đều tất cả sản phẩm, cơ quan quản lý đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhóm hàng hóa đối với sức khỏe, an toàn công trình và môi trường để lựa chọn phương thức giám sát phù hợp. Cách tiếp cận này vừa sử dụng hiệu quả nguồn lực quản lý nhà nước, vừa giảm gánh nặng thủ tục đối với các doanh nghiệp có mức độ tuân thủ cao.

Đối với ngành VLXD, xu hướng này càng trở nên cần thiết khi thị trường xuất hiện ngày càng nhiều vật liệu mới như bê tông tính năng siêu cao (UHPC), vật liệu tái chế, vật liệu nhẹ, vật liệu phát thải thấp và các sản phẩm tích hợp công nghệ số. Nếu tiếp tục áp dụng phương thức quản lý truyền thống, cơ quan quản lý sẽ khó theo kịp tốc độ đổi mới của thị trường.

Doanh nghiệp cần thay đổi cách quản trị

Tác động lớn nhất của chính sách không nằm ở việc doanh nghiệp phải thực hiện thêm hay bớt một thủ tục hành chính, mà ở việc thay đổi cách quản trị.

Nếu trước đây doanh nghiệp thường tập trung hoàn thiện hồ sơ công bố hợp quy khi đưa sản phẩm ra thị trường, thì trong mô hình mới, yếu tố quyết định là khả năng kiểm soát toàn bộ chuỗi sản xuất. Điều đó bao gồm việc lựa chọn nguyên liệu đầu vào, quản lý quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng theo từng công đoạn, lưu trữ dữ liệu và truy xuất nguồn gốc.

Những doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, ứng dụng chuyển đổi số trong sản xuất hoặc xây dựng cơ sở dữ liệu về sản phẩm sẽ có lợi thế rõ rệt. Ngược lại, các doanh nghiệp vẫn vận hành theo phương thức thủ công, thiếu quy trình kiểm soát hoặc phụ thuộc vào hồ sơ giấy sẽ phải đối mặt với áp lực chuyển đổi lớn hơn.

Điều này cũng cho thấy, cạnh tranh trên thị trường VLXD trong giai đoạn tới sẽ không chỉ dựa vào giá thành hay công suất sản xuất, mà ngày càng phụ thuộc vào năng lực quản trị chất lượng và minh bạch thông tin.

Nói cách khác, việc chuyển sang quản lý VLXD theo mức độ rủi ro không chỉ thay đổi phương thức quản lý nhà nước mà còn đặt ra yêu cầu mới đối với năng lực quản trị của doanh nghiệp.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và minh bạch hóa thị trường, dữ liệu về nguyên liệu, quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc sẽ trở thành tài sản quan trọng, giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ và nâng cao uy tín trên thị trường. Thông tư số 41/2026/TT-BXD khuyến khích áp dụng các giải pháp số như mã QR, RFID để truy xuất nguồn gốc, tạo nền tảng thích ứng với các xu hướng quốc tế như Hộ chiếu số sản phẩm (Digital Product Passport), Bản công bố môi trường sản phẩm (EPD) hay Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). Điều này cho thấy lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời gian tới sẽ không chỉ dựa vào công suất hay giá thành, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng quản trị, mức độ số hóa và khả năng minh bạch thông tin.

Do đó, doanh nghiệp cần chủ động hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu sản phẩm và lộ trình kiểm kê phát thải để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước cũng như quốc tế. Nhìn rộng hơn, chính sách quản lý theo mức độ rủi ro được kỳ vọng sẽ thúc đẩy quá trình tái cấu trúc ngành VLXD theo hướng hiện đại, minh bạch và phát triển bền vững.

Thông tư số 41/2026/TT-BXD có thể được nhìn nhận như một văn bản kỹ thuật về quản lý chất lượng VLXD, nhưng xét trên bình diện rộng hơn, đây là một tín hiệu cho thấy phương thức quản lý của ngành Xây dựng đang chuyển từ kiểm soát hồ sơ sang quản trị rủi ro và dữ liệu. Sự thay đổi này không chỉ đòi hỏi cơ quan quản lý đổi mới cách thức giám sát mà còn đặt doanh nghiệp trước yêu cầu tái cấu trúc mô hình quản trị.

Trong bối cảnh ngành Xây dựng hướng tới mục tiêu phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải, năng lực cạnh tranh sẽ ngày càng được quyết định bởi chất lượng dữ liệu, khả năng truy xuất nguồn gốc, mức độ minh bạch và hiệu quả quản trị, bên cạnh các yếu tố truyền thống như công suất hay giá thành. Do đó, thay đổi tư duy quản trị ngay từ hôm nay không chỉ là cách để doanh nghiệp đáp ứng một quy định mới, mà còn là bước chuẩn bị cần thiết cho một thị trường VLXD có yêu cầu cao hơn về chất lượng, tính bền vững và khả năng hội nhập quốc tế.

Hiện nhiều doanh nghiệp VLXD xuất khẩu đã bắt đầu quan tâm đến Bản công bố môi trường sản phẩm (Environmental Product Declaration - EPD) nhằm cung cấp dữ liệu minh bạch về tác động môi trường của sản phẩm trong toàn bộ vòng đời. Đây là cơ sở quan trọng để tham gia các dự án công trình xanh hoặc chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế.

Bên cạnh đó, việc Liên minh châu Âu triển khai Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đối với một số nhóm hàng hóa có cường độ phát thải cao cũng tạo sức ép đối với các ngành sản xuất vật liệu như xi măng, thép và nhôm. Mặc dù phạm vi áp dụng hiện nay chủ yếu hướng tới hàng xuất khẩu, nhưng xu hướng minh bạch dữ liệu phát thải và truy xuất nguồn gốc được dự báo sẽ lan tỏa sang nhiều thị trường khác.

Ở góc độ này, hệ thống quản lý chất lượng và dữ liệu mà doanh nghiệp xây dựng để đáp ứng quy định trong nước sẽ đồng thời trở thành nền tảng để đáp ứng các yêu cầu quốc tế về ESG, EPD và giảm phát thải.

Bình luận
Công ty IDECO Công ty Cổ phần cảng Nghệ Tĩnh Trung tâm dạy nghề tư thục Tùng Linh Công ty portcoast Công ty Xe đạp Thống Nhất