Doanh nghiệp xã hội - Cánh tay của chính quyền địa phương!
Trước hết, có thể hiểu ngắn gọn, DNXH là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu. Luật Doanh nghiệp 2014 quy định, DNXH là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định pháp luật; sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.
Chính vì mục tiêu phục vụ xã hội và phi lợi nhuận ấy nên DNXH được hệ thống pháp luật của Việt Nam khuyến khích phát triển.
Thứ nhất, chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý DNXH được xem xét, tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có liên quan theo quy định pháp luật.
Thứ hai, DNXH được tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài để thực hiện mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường theo quy định của pháp luật về tiếp nhận viện trợ phi chính phủ nước ngoài. Ngoài khoản viện trợ này, DNXH được tiếp nhận bằng tài sản, tài chính hoặc hỗ trợ kỹ thuật từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước và tổ chức nước ngoài đã đăng ký hoạt động tại Việt Nam.
Thứ ba, DNXH hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ được hưởng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, như doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ được hưởng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm; Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo…
Ưu đãi là thế, khuyến khích như thế nhưng cho đến nay, số liệu thống kê về đội ngũ DNXH được hình thành và hoạt động trên cả nước rất khan hiếm và không đầy đủ. Tuy nhiên, có một con số thống kê đáng tin cậy cho thấy, sau gần 6 năm Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực, số lượng DNXH đăng ký hoạt động với cơ quan đăng ký kinh doanh tính đến cuối tháng 4/2020 mới khoảng 140 doanh nghiệp. Một con số ước tính khác cho biết, có khoảng 25.600 tổ chức có khả năng trở thành DNXH, bao gồm các hợp tác xã, quỹ tín dụng và các tổ chức phi lợi nhuận khác...
Với một dân tộc giàu lòng nhân ái như Việt Nam trải qua chiều dài lịch sử đã chứng minh, ở một đất nước đang vươn lên sau muôn vàn khó khăn của hậu quả chiến tranh và thiên tai bão lũ, lẽ ra mô hình DNXH phải được phát triển rộng rãi mới đúng. Vậy nguyên nhân từ đâu?
Hẳn nhiều người còn nhớ trong Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển; văn hóa là sức mạnh mềm, là năng lượng gốc vô tận của dân tộc Việt Nam”.
Quả thật, từ ngàn đời nay, Việt Nam có một tài sản vô cùng quý giá cho sự phát triển bền vững của đất nước, đó là văn hóa chia sẻ, là "bầu ơi thương lấy bí cùng", là "lá lành đùm lá rách"..., là nguồn động lực cốt lõi cho DNXH phát triển, lẽ gì không được tôn vinh và khuyến khích?
Đã có nhận xét rằng thông điệp ấy của Tổng Bí thư Tô Lâm không chỉ là định hướng; đó là lời hiệu triệu, gợi nhắc chúng ta về căn cốt của dân tộc. Trong suốt chiều dài lịch sử, từ những ngày đầu dựng nước, qua những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại, cho đến hành trình kiến thiết đất nước hôm nay, văn hóa luôn là sức mạnh mềm nhưng bền bỉ nhất, xây dựng nên phẩm chất Việt Nam: yêu nước, nhân nghĩa, hiếu học, kiên cường, đoàn kết, sáng tạo, thích ứng linh hoạt với mọi biến động. Những phẩm chất ấy không tự nhiên có, mà được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, trở thành “mã gen tinh thần” của dân tộc Việt Nam.
Đến đây, nguyên nhân đầu tiên có thể xác định rằng cho đến nay, các cấp chính quyền của ta chưa đặt DNXH vào đúng sứ mệnh vốn có của nó, đó là đưa văn hóa chia sẻ trở thành một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, là cánh tay nối dài của chính quyền các cấp trong trách nhiệm an sinh xã hội.
Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ nền tảng nguồn lực xã hội còn hạn chế. Các nghiên cứu cho thấy tại Việt Nam, hơn 60% DNXH hoạt động phải tự bỏ vốn để thực hiện khởi sự kinh doanh, trong khi ở các nước phát triển chỉ số này thấp hơn, ở mức 30 - 40%. DNXH có đặc thù là không vì mục tiêu lợi nhuận, lại kinh doanh trên các thị trường có rủi ro cao, như bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống; giáo dục - đào tạo, y tế…, lợi suất tài chính thấp nên không hấp dẫn đối với các nguồn vốn đầu tư. Các DNXH rất khó huy động nguồn vốn vay ngân hàng vì thường không có tài sản, nhà xưởng thế chấp do phần lớn DNXH hoạt động ở quy mô nhỏ; lãi suất cho vay của ngân hàng cao hơn nhiều so với khả năng sinh lời của DNXH; thời gian hoàn vốn kéo dài hơn các dự án thông thường...
Thứ ba, DNXH là một hoạt động đặc thù trên thương trường nên việc huy động nguồn nhân lực phù hợp cũng có hạn chế nhất định. Đó là cần nguồn nhân sự gồm đủ 2 tố chất, vừa có tư duy quản trị, điều hành của một doanh nhân, vừa có tấm lòng chia sẻ với sứ mệnh và giá trị xã hội của doanh nghiệp.
Do hoạt động đặc thù nên DNXH cần có những quy định pháp lý minh bạch và rõ ràng hơn. Chẳng hạn như phải rành mạch khái niệm DNXH là một pháp nhân thương mại hay phi thương mại?
Theo phân tích của các chuyên gia, Bộ luật Dân sự xác định DNXH là một pháp nhân phi thương mại. Với quy định này, DNXH sẽ không được thành lập dưới hình thức là doanh nghiệp tư nhân, do doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân "phi thương mại". Bên cạnh đó còn quy định ràng buộc rằng, vì DNXH là pháp nhân phi thương mại nên không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên. Điều này có thể ảnh hưởng đến động lực cho các tổ chức, cá nhân thành lập DNXH.
Ở góc độ khác, Luật Doanh nghiệp xác định DNXH là pháp nhân thương mại, phải sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký. DNXH có thể sử dụng 49% lợi nhuận còn lại theo cách thức do doanh nghiệp lựa chọn và quyết định. Thậm chí, nếu các thành viên trong công ty quyết định sử dụng 49% chia cho các thành viên trong năm tài chính thì cũng được coi là hợp pháp.
Cách tiếp cận của Luật Doanh nghiệp đối với mô hình DNXH được đánh giá cởi mở hơn, linh hoạt hơn, phù hợp với nét đặc thù của DNXH, tạo nên sự cân bằng giữa việc thực hiện các mục tiêu xã hội mà doanh nghiệp hướng tới và việc tạo nên lợi nhuận cho các thành viên thành lập nên doanh nghiệp.
Kể từ ngày chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động nhằm mục tiêu gần dân hơn để phục vụ người dân tốt hơn, trách nhiệm về an sinh xã hội tại các địa phương trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Không chỉ lo toan cắt giảm các thủ tục hành chính, giảm phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, nhiều nhiệm vụ quan trọng an sinh xã hội thường xuyên phải đặt lên hàng đầu, như xóa đói, giảm nghèo; giải quyết việc làm và tạo việc làm mới; vấn đề hỗ trợ người khuyết tật; bảo trợ trẻ em; vấn đề chăm sóc người cao tuổi do quá trình già hóa dân số; vấn đề tái hòa nhập cộng đồng cho những người mãn hạn tù, nghiện ma túy, tệ nạn mại dâm... Ngoài ra, còn rất nhiều vấn đề liên quan đến giáo dục, y tế dự phòng, an toàn giao thông, an ninh trật tự, giảm nhẹ tác động ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu, vấn đề văn hóa và tiếp biến văn hóa trong quá trình phát triển...
Trách nhiệm nặng nề như vậy, nếu chính quyền địa phương các cấp biết khai thác nguồn lực văn hóa chia sẻ đầy tiềm năng trong dân, hình thành những "cánh tay nối dài" là các DNXH, một sức mạnh vốn được ghi nhận từ ngàn đời "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong" thì vấn đề an sinh xã hội ở đìa phương sẽ nhẹ gánh hơn rất nhiều!
Theo con số thống kê, hầu hết các DNXH hiện nay có tới 70% quy mô dưới 20 nhân viên, hoàn toàn phù hợp với tầm hỗ trợ phát triển và quản lý Nhà nước ở cấp xã. Với sự phân cấp trách nhiệm và quyền hạn mạnh mẽ hiện nay, chính quyền cấp xã hoàn toàn có thể hỗ trợ về mặt pháp lý cho các tổ chức xã hội, cá nhân các sáng lập viên muốn chuyển đổi, thành lập mới; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực quản lý; ghi nhận và vinh danh thành quả của DNXH tại địa phương mình.






