Dõi trong “mắt biển” dẫn đường
Tôi tìm đến những người gác Hải đăng như một sự tình cờ. Những câu chuyện thấm bão, âm âm trong mặn mòi của biển như những lớp sóng quen thuộc loang loáng đi qua theo lời kể của họ. Người tôi gặp đầu tiên là anh Phạm Trọng Đồng, một người kỳ cựu có đến quá nửa đời nghề gắn bó với các ngọn Hải đăng - những mắt biển dẫn đường.
“Chưa đi chưa biết Hạ Mai/Đi rồi mới biết dốc dài lê thê”.
Đang dở câu chuyện, anh Phạm Trọng Đồng cao hứng đọc mấy câu thơ mà anh em trên trạm quản lý đèn biển tự sáng tác.
Hạ Mai trong câu thơ anh nhắc đến là một đảo nhỏ trên vùng biển Đông Bắc Bộ, trên đó có trạm quản lý đèn biển Hạ Mai (hải đăng Hạ Mai). Tầm hiệu lực ánh sáng của hải đăng Hạ Mai là 20,7 hải lý, giúp tàu thuyền hoạt động trong vùng biển Quảng Ninh định hướng và xác định vị trí của mình.
Từ chân núi, sát mặt biển lên đến trạm đèn dài gần 1 km. Đảo này chưa có điện lưới, không có dân, chỉ có anh em trạm đèn và một đơn vị bộ đội. Trên quãng đường với độ dốc hơn 30 độ xuyên qua cánh rừng nguyên sinh là 345 bậc thang. Nhu yếu phẩm tiếp tế đều phải tập kết ở chân núi, sau đó chia nhỏ rồi mới được mang vác, gánh gồng lên trạm, nơi có ngọn hải đăng cao 11,3 m. Tất cả đều bằng sức người…
Từng công tác tại các trạm đèn biển Cô Tô, Hạ Mai, đảo Trần…, giờ anh Phạm Trọng Đồng trở lại Bạch Long Vỹ lần 2, làm Trạm trưởng trạm quản lý đèn biển ở hòn đảo này. “Ở Bạch Long Vỹ, ngoài bộ đội còn có dân nhưng vì xa đất liền nên anh em vẫn phải tự khắc phục nhiều thứ, thiếu nhất vẫn là nước ngọt, rau xanh”, người trạm trưởng 46 tuổi chia sẻ.
Xung quanh trạm đèn biển, anh Đồng và các anh em có trồng một số cây bóng mát, rồi hoa, cây ăn quả nhưng đều bị gió biển mang theo hơi mặn táp cháy hết lá, không phát triển được. Còn để trồng được một số loại rau, các anh phải xây tường bao xung quanh chắn gió biển. Nước rửa rau không dám đổ đi mà trữ lại, tiếp tục… tưới cho rau.
“Trạm có 2 bể chứa nước ngọt, mọi năm thì mưa đầy bể, năm nay lượng mưa chỉ bằng 1/3 năm ngoái nên phải dùng tiết kiệm nhất có thể”, anh Đồng nói.
Ở trạm đèn, quân số luôn phải đảm bảo tối thiểu 70%. Cứ 3 tháng các anh luân phiên được nghỉ 1 tháng nhưng để tiết kiệm, họ chỉ dám nghỉ chừng 10 ngày một lần, còn lại để dành khi có việc đột xuất.
Trạm trưởng Phạm Trọng Đồng bảo, so với các đảo khác, Bạch Long Vỹ là đảo xa nhất, nhưng khó khăn, vất vả nhất đối với anh em phải là ở đảo Hạ Mai, nơi đúng nghĩa là thử thách sức người.
Từng đi nhiều trạm đèn trên các đảo, giờ là người nhiều tuổi nhất, cũng là Trạm trưởng trạm đèn biển Bạch Long Vỹ nên anh Đồng luôn cố gắng kết nối, động viên, chia sẻ để anh em vơi bớt nỗi nhớ nhà, người thân.
“Anh em hàng ngày ăn cùng mâm, thời gian ở với nhau còn nhiều hơn ở với vợ nên mọi người quý nhau như ruột thịt. Bình thường người ta bảo vui như Tết, nhưng với anh em ở trạm, do đặc thù công việc, ngày Tết lại buồn, vắng nhất, nhớ người thân ở đất liền. Thậm chí, có những năm anh em còn bảo nhau, tối và đêm Giao thừa không bật tivi lên nữa vì những hình ảnh sum vầy, vui vẻ trên ti vi dễ khiến anh em tủi thân”, Trạm trưởng trạm đèn biển Bạch Long Vỹ chia sẻ.
Cũng rong ruổi bao năm tại các trạm đèn Hòn Khoai, Hòn Chuối, luồng Tây Nam Bộ, đến năm 2021, anh Vũ Văn Phương chuyển công tác ra trạm đèn Bạch Long Vỹ để được gần nhà (quê anh ở Hải Dương cũ).
Vợ anh Phương, chị Đồng Thị Thanh cũng muốn một lần ra đảo thăm chồng nhưng “cứ nghĩ đến đi tàu là đã say rồi”, thành thử chẳng dám đi.
“Người ngoài cứ nghĩ anh em ở trạm đèn nhàn hạ, công việc đơn điệu nhưng chúng tôi vẫn phải luôn tay kiểm tra, vệ sinh, bảo dưỡng các thiết bị, vật tư để đảm bảo các thiết bị luôn hoạt động tốt, ngọn hải đăng luôn sáng, trong mọi điều kiện thời tiết”, anh Phương nói và cho biết, con trai anh cũng đã học xong đại học, hiện theo tàu viễn dương.
Là người trẻ nhất trạm đèn Bạch Long Vỹ, anh Trịnh Văn Đương (SN 1988, quê Hải Phòng) cũng đặt chân qua các trạm đèn Vĩnh Thực (hơn 7 năm), Cô Tô (2 năm). Anh bảo, trong gần chục năm ấy, hầu như đều đón Tết ở trạm, trung bình khoảng 3 năm được ăn Tết ở nhà một lần.
Có những anh em gắn bó cả chục năm ở một trạm đèn, cơ quan tạo điều kiện thay đổi nơi công tác (sang trạm đèn ở đảo khác) nhưng nhiều người không muốn đi vì “anh em đang quen trạm, thân nhau, quen tính cách nên chả muốn chuyển đi”.
“Trạm đèn Hạ Mai và Long Châu xa nhất, biệt lập, đi lại khó khăn nhưng bù lại anh em giữ được lương vì… có chỗ tiêu tiền đâu”, anh Đỗ Văn Sáng (SN 1984) dí dỏm.
Cũng thuộc vùng biển Đông Bắc Bộ, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 50 km, đảo Long Châu được cấu tạo từ đá vôi và các bãi đá ngầm hiểm trở. Trên đảo là sừng sững ngọn hải đăng Long Châu, có khả năng chiếu sáng xa 27 hải lý. Những ngày trời quang mây tạnh, tàu biển cách xa đảo hàng chục km vẫn có thể nhìn thấy để định hướng.
Trong nhiều thập kỷ qua, hải đăng Long Châu vẫn soi đường cho hàng vạn tàu, thuyền ra vào vùng biển vịnh Bắc Bộ.
Trên đảo Long Châu, đá nhiều vô kể, sắc nhọn, dựng đứng. Ngược lại, đất trên đảo hiếm lắm. Nhiều lần đơn vị phải vận chuyển đất từ đất liền ra để anh em có thể trồng rau, cải thiện bữa ăn.
“Hải đăng Long Châu do người Pháp xây dựng từ năm 1894, là một trong những ngọn hải đăng cổ nhất Việt Nam”, anh Nguyễn Mạnh Hùng, Trạm trưởng trạm quản lý đèn biển Long Châu giới thiệu và cho biết, trạm có 5 anh em thay phiên nhau trực gác để ngọn hải đăng luôn dẫn đường cho tàu thuyền qua lại.
Người trạm trưởng quê gốc Nam Định cho hay, bình thường cứ 2 tháng lần anh em được “tàu to” tiếp tế các vật tư, thiết bị, thực phẩm; ca nô thì 1 tháng được “biên chế” 10 chuyến, anh em tự tiếp tế (mua của tàu cá, tàu dịch vụ hậu cần).
“Cá thì rẻ hơn đất liền nhưng gạo, thịt thì đắt hơn. Anh em tự tăng gia nuôi dê, thả tự do trên đảo đá, giờ có cả 1 đàn hàng chục con”, anh Hùng khoe và bảo rằng, có lần cũng mang gà ra thử nuôi, che chắn cẩn thận nhưng cũng không con nào sống được. Mùa hè đá phả hơi nóng. Khi đông, gió rít như bão”, Trạm trưởng có 21 năm ở đảo Long Châu tâm sự.
Cũng giống nhiều đảo khác, nước ngọt và rau xanh là “vấn đề” với anh em trên trạm đèn Long Châu. “Téc và bể nước 30 khối, tất cả mùa mưa thì không đầy. Kể cả trong đất liền Hải Phòng mưa ngập, lụt nhưng ngoài đảo có khi lại không mưa, chỉ có gió tạt, nước mưa hứng không được nhiều”, anh nói.
Nhớ lại thời điểm tháng 9/2024 khi bão Yagi đổ bộ vào đảo, anh Hùng bảo lúc đó không thể liên lạc được với đất liền, kể cả bằng điện thoại hay thông tin vô tuyến, hữu tuyến. Lãnh đạo Tổng Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Việt Nam đứng ngồi không yên, lo cho anh em trên đảo. Hải đăng sừng sững giữa biển cả cuồng nộ. “Mắt biển” trong mắt bão. Gió bão cứ quật liên hồi, thổi bay cả chóp đèn nhưng đèn vẫn sáng. Sáng hôm sau, trông lên thấy đèn vẫn an toàn là anh em thở phào nhẹ nhõm, vừa khắc phục chóp đèn chính, vừa sẵn sàng phương án dùng đèn dự phòng.
Trong 21 năm công tác trên đảo, anh Hùng đón 13 cái Tết giữa biển trời bao la. Những chuyến về phép, anh em cố gắng căn chuyến tàu của biên phòng để đi nhờ cho tiết kiệm.
“Quần áo cứ tích lại 3 ngày làm một mẻ, mang xuống bến dưới chân đảo giặt, khi lên chỉ cần tráng qua nước ngọt là xong”, anh Hùng nói.
Hiện người trẻ nhất tại trạm đèn Long Châu sinh năm 1989, người nhiều tuổi nhất sinh năm 1969, là anh Dương Văn Hùng, với 37 năm gắn bó với đảo. Hết quý I/2026, anh Dương Văn Hùng đến tuổi nghỉ hưu.
“Hải đăng Long Châu cao 110 m so với mực nước biển, để lên đến nơi đặt ngọn đèn biển phải leo lên 130 bậc thang gỗ xoáy trôn ốc cổ kính”, người công nhân kỳ cựu ở trạm đèn kể và cho biết, do nhiều đá ngầm nên những lần tàu tiếp tế ra đảo, thùng, téc dầu buộc phải thả xuống biển, anh em tìm cách kéo vào bờ rồi chia ra các can nhỏ 20 lít, vận chuyển lên đảo. Dầu để chạy máy phát, trên trạm đèn hiện nay cũng được lắp đặt tấm pin mặt trời để thêm nguồn năng lượng phục vụ công việc, sinh hoạt.
Quê anh Hùng ở Hà Nam cũ, không có biển nhưng qua câu chuyện đi biển của bố và bác (trước đây bố và bác của anh Hùng cũng làm trong ngành bảo đảm hàng hải), anh gắn bó với biển, với ngọn hải đăng lúc nào không hay.
Cậu con trai út của anh Hùng năm nay đang học cấp 3 cũng từng được anh Hùng cho ra đảo Long Châu chơi. Và như một lẽ tự nhiên, cậu bé cũng thích biển, thích những con tàu, thích ngọn hải đăng cao vời vợi, soi đường chỉ hướng cho hàng ngàn con tàu. Cậu bé có cái tên Dương Hải Đăng, do chính anh Hùng đặt, như một sự gửi gắm tình yêu với biển, với ngọn hải đăng.
Ở lối lên trạm đèn Long Châu hiện nay, những ai đi qua đều dễ dàng nhận ra một tấm bia, trên đó khắc tên liệt sỹ Cao Quy Viên, hy sinh năm 1967.
Anh Dương Văn Hùng kể, năm đó, Mỹ mở rộng đánh phá ra miền Bắc. Người công nhân trạm hải đăng khi đó vừa bảo vệ đèn biển, vừa cầm súng bảo vệ đảo.
“Cách đây ít năm, gia đình bác Viên đã chuyển hài cốt về đất liền, còn nơi người công nhân trạm hải đăng hy sinh khi xưa được dựng một tấm bia tưởng nhớ. Ngày rằm và mùng 1, anh em trạm vẫn thắp hương, cầu mong linh hồn liệt sỹ phù hộ cho anh em trên đảo sức khỏe, vững tâm với nghề bảo đảm an toàn hàng hải”, anh Hùng tâm sự.






