Đốt rác phát điện góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và thay đổi cuộc sống nhanh chóng đã dẫn đến việc phát sinh một lượng lớn chất thải tại các khu đô thị, nông thôn và khu công nghiệp trên thế giới và Việt Nam. Để giải quyết bài toán về rác thải sinh hoạt, nhiều quốc gia đã triển khai nhiều sáng kiến và công nghệ khác nhau, nổi bật là công nghệ đốt rác thải thành năng lượng, cho phép xử lý và tái chế rác thải trước khi thải bỏ.
Đốt rác phát điện góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Nhà máy điện rác ở Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

1. Đặt vấn đề

Đốt rác phát điện (ĐRPĐ), hay còn gọi là điện rác (waste-to-energy - WtE), là quá trình xử lý và chuyển hóa rác thải hữu cơ thành năng lượng dưới dạng điện và/hoặc nhiệt thông qua phương pháp đốt cháy. Đây là một trong những công nghệ tái chế và thu hồi năng lượng.

Trong bối cảnh hiện nay, nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, ứng phó với biến đổi khí hậu và nguy cơ khủng hoảng năng lượng toàn cầu, việc áp dụng công nghệ ĐRPĐ là hết sức cần thiết.

Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam cần tận dụng rác thải như một nguồn năng lượng sinh khối, góp phần quan trọng vào việc giải quyết bài toán an ninh năng lượng quốc gia.

2. Rác thải là tài nguyên, ĐRPĐ là công nghệ tiên tiến trong xử lý rác thải ở Việt Nam hiện nay

Theo Bộ Công Thương, tại Việt Nam bình quân mỗi ngày khoảng 35.000 tấn rác thải sinh hoạt đô thị và 34.000 tấn rác thải sinh hoạt nông thôn được thải ra. Khối lượng rác tại Thủ đô Hà Nội và TP.HCM trung bình khoảng 7.000 - 8.000 tấn rác mỗi ngày.

Hiện nay, trên 70% lượng rác thải tại Việt Nam đang được xử lý chủ yếu bằng công nghệ chôn lấp, trong đó 80% là bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, gây hại cho môi trường. Chỉ có 13% rác được đốt cháy để thu hồi năng lượng. 

Chôn lấp rác là công nghệ lạc hậu, tốn đất và gây ra nhiều tác hại, tạo ra nguy cơ cháy; ô nhiễm nước ngầm; phát tán khí metal; gây bệnh cho người lao động và người sống xung quanh; thu hút các loài động vật (chó, chim, động vật gặm nhấm, côn trùng)...

Việc chôn lấp rác ngoài tác động xấu đến môi trường thì còn phải đối mặt với sự phản đối của người dân ở gần khu xử lý rác, chi phí cho việc thu gom, vận chuyển ngày một tăng trong khi tài nguyên rác bị lãng phí.

Công nghệ ĐRPĐ, là một trong những công nghệ xử lý rác thải được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Việc chuyển đổi rác thải thành năng lượng đang và sẽ tăng lên phù hợp với nhu cầu của thế giới và Việt Nam. Hơn nữa, dùng công nghệ đốt rác sẽ xử lý được một lượng rác lớn một cách triệt để và giảm ô nhiễm môi trường. 

Theo báo cáo về tình hình thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) của Cục kiểm soát ô nhiễm môi trường Việt Nam hiện có khoảng 15 - 20 nhà máy đốt rác phát điện đã và đang được triển khai xây dựng, trong đó đã có một số nhà máy chính thức phát điện. Các nhà máy điện rác hiện tại bao gồm:

Nhà máy xử lý chất thải rắn Cần Thơ của Công ty TNHH Năng lượng Môi trường EB (Cần Thơ) công suất 400 tấn/ngày tại TP Cần Thơ.
Nhà máy điện rác Sóc Sơn (rác sinh hoạt) với công suất 4.000 tấn/ngày tại Hà Nội.

Nhà máy điện rác Seraphin của Tập đoàn AMACAO tại Xuân Sơn, xã Tùng Thiện, Hà Nội với công suất 2250 tấn/ngày xây dựng vào 3/2022 và đã nhận rác xử lý vào 5/2025.

Nhà máy xử lý chất thải rắn công nghệ cao phát năng lượng của Công ty TNHH Môi trường Ngôi Sao Xanh, tỉnh Bắc Ninh công suất 180 tấn/ngày (trong đó CTRSH 100 tấn/ngày, CTRCN 80 tấn/ngày).

Nhà máy điện rác (rác sinh hoạt) ở Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh công suất 300 tấn/ngày.

Nhà máy điện rác ở Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh công suất 500 tấn/ngày (trong đó CTRSH 350 tấn/ngày, CTRCN 150 tấn/ngày.).

Nhà máy điện rác (rác sinh hoạt) ở Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh công suất 500 tấn/ngày.

Nhà máy điện rác Phú Sơn (Thừa Thiên Huế) công suất 600 tấn/ngày.

Nhà máy đốt rác phát điện công suất 5 MW tại Khu liên hợp xử lý chất thải Bình Dương của Tổng Công ty Cổ phần Nước - Môi trường Bình Dương (BIWASE) đã được khánh thành vào ngày 12/01/2024.

Nhà máy đốt rác phát điện Tâm Sinh Nghĩa tại xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi, TP.HCM là một trong những dự án điện rác quy mô lớn. Giai đoạn I của dự án có công suất xử lý lên đến 2.600 tấn rác thải/ngày và công suất phát điện 120 MW. Dự án do Bamboo Capital và công ty thành viên BCG Energy đầu tư, được khởi công xây dựng và hoàn thành vào năm 2025.

Tại Hà Nam, Cần Thơ và Quảng Bình, một số nhà máy điện rác đã đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, nhiều dự án đốt rác phát điện khác đang được triển khai, như cơ sở xử lý chất thải tại Vĩnh Tân (Đồng Nai) với công suất xử lý 600 tấn/ngày và công suất phát điện 30 MW; cơ sở tại Phù Ninh (Phú Thọ) với công suất xử lý 500 tấn/ngày; cùng nhiều dự án khác đang trong quá trình đầu tư và xây dựng.

Việc đưa các nhà máy xử lý chất thải rắn bằng công nghệ đốt rác phát điện vào vận hành không chỉ góp phần xử lý hiệu quả lượng chất thải phát sinh mà còn tạo ra nguồn năng lượng tái tạo, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường.

Đây là một giải pháp quan trọng nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm nhu cầu chôn lấp chất thải, tiết kiệm quỹ đất và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn theo hướng bền vững.

Hình 1. Bãi rác ở khắp nơi đã quá tải    
Hình 2. Nhà máy xử lý rác sinh hoạt phát điện Cần Thơ

3. Các lợi ích chính của công nghệ ĐRPĐ

a) Lợi ích về môi trường

Giảm thể tích rác tối đa: Công nghệ này đốt cháy và giảm 90 - 95% thể tích, khối lượng rác thải, giúp giải quyết bài toán thiếu bãi chôn lấp.
Giảm ô nhiễm môi trường: Loại bỏ mùi hôi, rỉ nước và loại bỏ các nguy cơ ô nhiễm nguồn nước.

Giảm khí thải nhà kính và kiểm soát ô nhiễm: Các nhà máy hiện đại tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn môi trường, đảm bảo khí thải không gây hại, thậm chí tích hợp công nghệ thu hồi carbon.
Tạo nguồn năng lượng tái tạo và hiệu quả: Biến rác thành điện năng hoặc nhiệt năng; cung cấp điện ổn định.

b) Lợi ích về kinh tế - xã hội

Tiết kiệm diện tích đất: Công nghệ đốt rác phát điện giúp giảm nhu cầu sử dụng quỹ đất lớn để chôn lấp rác, đặc biệt quan trọng tại các đô thị đông đúc.

Phát triển kinh tế tuần hoàn: Tro xỉ sau khi đốt có thể được tái chế để làm vật liệu xây dựng như gạch không nung, vật liệu san lấp hoặc vật liệu nền đường, giúp tận dụng tối đa vòng đời của vật chất và tối ưu hóa việc quản lý chất thải.

Phát triển công nghiệp xanh: Thúc đẩy công nghệ xử lý rác hiện đại, thu hút đầu tư và tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương, nâng cao chất lượng sống cho người dân góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và vùng.

Tăng cường an ninh năng lượng: Cung cấp thêm một nguồn năng lượng nội địa, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch (than, dầu).

Tóm lại, công nghệ đốt rác phát điện không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là xu hướng thông minh để biến gánh nặng rác thải thành tài nguyên, hướng tới sự phát triển bền vững. 

4. Một số thách thức về ĐRPĐ ở Việt Nam 

Mặc dù đốt rác phát điện (WTE) là giải pháp bền vững để thay thế công nghệ chôn lấp lạc hậu vốn đang xử lý hơn 70% lượng rác thải tại Việt Nam, lĩnh vực này vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức lớn từ kỹ thuật đến chính sách. 

a) Thách thức về phân loại, chất lượng và khối lượng rác thải. Đây là rào cản kỹ thuật lớn nhất ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất vận hành của các lò đốt:

Chưa phân loại tại nguồn: Phần lớn rác thải sinh hoạt chưa được phân loại, dẫn đến việc chứa nhiều tạp chất không phù hợp để đốt. Rác thải ở Việt Nam có độ ẩm cao (do chứa nhiều rác hữu cơ) và nhiệt trị thấp, gây khó khăn cho việc duy trì quá trình cháy ổn định.

Thiết bị thu gom chưa đồng bộ: Hệ thống phương tiện vận chuyển hiện nay chưa phù hợp với các loại rác đã được phân loại, làm giảm hiệu quả của các chương trình thí điểm.

Nhu cầu rác đầu vào lớn có nguy cơ vượt quá lượng thu gom lúc đó có khi nhà máy phải chờ rác. 

b) Chi phí đầu tư và vận hành cao

Vốn đầu tư lớn: Suất đầu tư cho các nhà máy điện rác tại Việt Nam dao động từ 3,5 - 4 triệu USD/1MW. Trong đó, chi phí thiết bị chiếm tới 70 - 80% tổng vốn đầu tư.

Thời gian thu hồi vốn dài: Do hiệu suất điện năng thấp (chỉ khoảng 20 - 25%) và chi phí bảo trì thường xuyên, thời gian thu hồi vốn kéo dài từ 10 - 20 năm.

Rủi ro công nghệ: Nhiều dự án sử dụng công nghệ tiên tiến từ nước ngoài nhưng lại khó thích ứng với đặc thù rác thải chưa phân loại tại Việt Nam, dẫn đến tuổi thọ thiết bị ngắn hơn dự kiến. 

c) Rào cản về chính sách và thủ tục hành chính: Chưa có cơ chế riêng cho việc lựa chọn nhà đầu tư và ký kết hợp đồng dịch vụ xử lý CTRSH, vốn là đặc thù của điện rác. Quy trình phê duyệt phức tạp, cơ chế giá điện chưa hấp dẫn, thiếu hành lang pháp lý cụ thể về đấu thầu, môi trường và quản lý ngân sách đối với dự án điện rác. Chưa phân cấp đủ cho địa phương trong quản lý công trình điện rác.

d) Tác động môi trường và xã hội

Tro xỉ và khí thải: Quá trình đốt rác tạo ra tro bay và bụi mịn có thể chứa các chất độc hại như dioxin, đòi hỏi công nghệ xử lý khí thải nghiêm ngặt và chi phí cao.

Sự phản đối của cộng đồng: Người dân xung quanh khu vực dự án thường lo ngại về ô nhiễm môi trường, đặc biệt là khi các công nghệ cũ gây mùi hôi hoặc phát tán khí độc. 

5. Bài học về ĐRPĐ tại một số nước trên thế giới

Công nghệ đốt rác phát điện được nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, Thụy Điển, Đức, Singapore… lựa chọn như một giải pháp hiệu quả. Thay vì để rác phân hủy trong lòng đất, nhà máy điện rác sử dụng lò đốt ở nhiệt độ cao để chuyển hóa chất thải thành hơi nước và điện năng.

Ngoài điện năng, quá trình xử lý rác còn tạo ra các sản phẩm phụ có giá trị kinh tế như gạch từ tro xỉ, khí ga, kim loại tái chế và nước sạch đóng chai.

Tro xỉ sau đốt có thể được xử lý để sản xuất vật liệu xây dựng. Kim loại trong rác được tách ra để tái chế. Khí ga dùng đốt cháy phát điện. Điều này giúp giảm lượng chất thải cuối cùng phải chôn lấp. tái chế và nước sạch đóng chai.

Thuỵ Điển là quốc gia rất thành công trong việc xử lý rác thải, khi giải quyết được gần như 100% rác thải sinh hoạt của người dân, đặc biệt quốc gia này đi đầu trong việc biến rác thải thành năng lượng.

Hiện tại Thuỵ Điển chỉ có 1% rác được chôn lấp, còn lại 52% đốt để sản xuất điện và 47% được tái chế. Hiện tại, với dân số chỉ hơn 10 triệu người nhưng Thụy Điển đã có hơn 34 nhà máy điện rác cung cấp điện cho 780.000 hộ gia đình.

Có thể thấy, nước này không chỉ tận dụng rất tốt “tài nguyên rác” mà còn được các nước lân cận trả tiền để “sử dụng” rác hộ. Điều này cũng cho thấy, Thuỵ Điển nhận thức rất rõ tình hình cạn kiệt năng lượng và biến đổi khí hậu trong tương lai.

Hình 3. Nhà máy điện rác ở Thuỵ Điển

Tại nhiều nước châu Âu khác do quỹ đất hạn hẹp, cần bảo vệ tầng nước ngầm nghiêm ngặt, nên lượng CTR được xử lý bằng phương pháp đốt chiếm ưu thế: Ở Đức, có trên 60% CTR được đốt, ở Đan Mạch CTR được đốt gần 100% (đốt có thu hồi năng lượng).

Trung Quốc: “Dự án biến rác thải đô thị thành năng lượng” thúc đẩy các sáng kiến chuyển rác thải thành năng lượng bằng cách sử dụng các công nghệ thân thiện với môi trường.

Với bốn nhà máy đã đi vào hoạt động, các cơ sở này cùng nhau sản xuất 480 GWh điện hàng năm, giúp giảm tương đương 544.000 tấn carbon dioxide mỗi năm. Đầu tư tư nhân chủ yếu tài trợ cho các lò đốt rác của Trung Quốc, chủ yếu nhằm mục đích kiếm lợi nhuận và việc mở rộng các nhà máy này được thực hiện với sự cân nhắc kỹ lưỡng.

Nhật Bản, quốc gia vốn phụ thuộc nhiều vào công nghệ khí hóa và đốt trực tiếp trong quản lý chất thải, cũng đã triển khai thành công. Hệ thống đốt trực tiếp (DMS) với công suất xử lý từ 10.000 đến 230.000 tấn chất thải mỗi năm, hệ thống này có thể xử lý nhiều loại chất thải khác nhau, bao gồm rác thải sinh hoạt, rác thải đặc biệt và rác thải y tế cũng như bùn thải, từ đó tạo năng lượng cung cấp cho các lưới điện.

Để sử dụng công nghệ hiệu quả việc phân loại rác cực kỳ nghiêm ngặt đây là yếu tố cốt lõi, người dân phải phân loại rác thành nhiều túi khác nhau (rác đốt được, rác không đốt được, rác tái chế, rác cồng kềnh) theo lịch thu gom cụ thể của từng địa phương.

Thái Lan đã thúc đẩy quốc gia này đưa công nghệ này trở thành một phần trong chương trình nghị sự quốc gia. Thái Lan đã xây dựng các lò đốt với công suất 9,8 GW xử lý 500 tấn chất thải rắn thành điện mỗi ngày.

Tuy nhiên, nguy cơ ô nhiễm từ các cơ sở đốt rác thành năng lượng vẫn có thể xảy ra đó là việc xây dựng cơ sở quản lý chất thải có thể rủi ro về môi trường và sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là liên quan đến vị trí gần khu dân cư vì vậy nhiều chuyên gia khuyến cáo phải có sự hợp tác và có kế hoạch toàn diện đảm bảo tính khả thi và an toàn trong đó bao gồm cả sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. 

6. Một số giải pháp thúc đẩy phát triển ĐRPĐ tại Việt Nam hiện nay

a) Về Quy hoạch và Đầu tư 

Lập quy hoạch xử lý chất thải rắn (CTR) theo hướng liên vùng hoặc liên tỉnh điều này giúp đảm bảo đủ lượng rác đầu vào ổn định (tối thiểu 500 - 1000 tấn/ngày) cho một nhà máy điện rác công suất lớn.

Các dự án điện rác có quy mô lớn phải được xác định trong các quy hoạch ngành điện quốc gia hoặc quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh để làm cơ sở cho việc đầu tư và đảm bảo đấu nối với mạng lưới điện thuận lợi. 

Trên cơ sở quy hoạch đã xác định vị trí nhà máy điện rác cần đảm bảo quỹ đất sạch khi giao cho các nhà đầu tư.

Khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân đầu tư vào các dự án xây dựng nhà máy điện rác theo hình thức PPP.

b) Về cơ chế, chính sách 

Xem xét ban hành mức giá mua điện rác phù hợp để bù đắp chi phí đầu tư công nghệ cao và xử lý khí thải phức tạp.

Tăng đơn giá xử lý rác: Nâng đơn giá dịch vụ xử lý rác (ngân sách chi trả) để nhà đầu tư có thể thu hồi vốn nhanh, không phụ thuộc hoàn toàn vào tiền bán điện.

Chính quyền địa phương cam kết cung cấp đủ khối lượng rác, loại rác (nhiệt trị) và bồi thường nếu không cung cấp đủ rác theo hợp đồng; đồng thời triển khai quyết liệt việc phân loại rác tại nguồn, nâng cao nhiệt trị rác đầu vào, giúp nâng cao hiệu suất phát điện.

Ưu đãi thuế & tín dụng: Miễn/giảm thuế nhập khẩu máy móc, thuế thu nhập doanh nghiệp, và tạo điều kiện tiếp cận vốn vay lãi suất thấp.

c) Về tiêu chuẩn, quy chuẩn:  Rà soát các Tiêu chuẩn kỹ thuật (TCVN, IEC), cập nhật, bổ sung các quy chuẩn kỹ thuật (QCVN) như Quy chuẩn về Điện (đảm bảo an toàn điện, đấu nối lưới điện); Quy chuẩn về môi trường (môi trường khí, nước thải); Quy chuẩn chiếu sáng đô thị

d) Về quản lý Nhà nước: Rà soát, giảm thiểu các thủ tục về đấu thầu; Đơn giản hóa thủ tục đầu tư, môi trường, xây dựng rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án;  Đào tạo đội ngũ nhân lực kỹ thuật cao, quản lý vận hành tự động hóa nhà máy xử lý.

7. Kết luận

Sử dụng điện từ đốt rác thải sinh hoạt (Waste-to-Energy - WtE) cho các hoạt động sản xuất, sinh hoạt trong đó cho chiếu sáng là một giải pháp bền vững, giúp giải quyết cùng lúc vấn đề rác thải đô thị và nhu cầu năng lượng, cụ thể là điện năng cho hệ thống chiếu sáng công cộng nói riêng.

Đây là một chu trình sản xuất khép kín, các chất thải được quay trở lại, trở thành nguyên liệu cho sản xuất, từ đó giảm mọi tác động tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái và sức khỏe con người. 

Việc phát triển các dự án ĐRPĐ là một trong những giải pháp quan trọng nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Nhà nước liên quan đến phát triển kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Mặc dù vẫn còn những khó khăn và thách thức cần tiếp tục được tháo gỡ về công nghệ, cơ chế chính sách, nguồn rác đầu vào và sự đồng thuận của cộng đồng, song với sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan quản lý nhà nước, sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và sự đồng thuận của xã hội, lĩnh vực ĐRPĐ tại Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

* Xem file PDF tại đây

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Tài nguyên và Môi trường. Sáng kiến biến rác thành năng lượng đang thay đổi cách xử lý chất thải thế nào. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài nguyên và Môi trường, 28/06/2024. Internet https://vea.mae.gov.vn/tin-tuc-su-kien/10464/sang-kien-bien-rac-thanh-nang-luong-dang-thay-doi-cach-xu-ly-chat-thai (truy cập ngày 03/07/2024).
[2] Nguyễn Lâm Quảng, Nghiêm Vân Khanh. Điện rác tại Việt Nam: Tiềm năng và thách thức của công nghệ thiêu đốt. Tạp chí Xây dựng, số 9/2025. Internet https://tapchixaydung.vn/dien-rac-tai-viet-nam-tiem-nang-va-thach-thuc-cua-cong-nghe-thieu-dot-20201224000032946.html (truy cập ngày 02/4/2026)
[3] Nguyễn Cường. Phát triển điện rác tại Việt Nam - Để không bị mất cơ hội ngay trên sân nhà. Tạp chí Công nghiệp Môi trường, số 9/2025. Internet https://congnghiepmoitruong.vn/phat-trien-dien-rac-tai-viet-nam-de-khong-bi-mat-co-hoi-ngay-tren-san-nha-16011.html (truy cập ngày 04/4/2026) 

Bình luận
Nhà ở xã hội SUNRISE HOME Ngọc Hồi Công ty IDECO Công ty portcoast Công ty Xe đạp Thống Nhất
  • Dự án Monrei Saigon Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam