Gắn kết chặt chẽ giữa “cội nguồn dân tộc” với phát triển văn minh hiện đại Gắn kết chặt chẽ giữa “cội nguồn dân tộc” với phát triển văn minh hiện đại

Gắn kết chặt chẽ giữa “cội nguồn dân tộc” với phát triển văn minh hiện đại

Bài báo này tập trung phân tích các chiến lược quy hoạch, đặc biệt là việc phát huy giá trị văn hóa lịch sử, truyền thống, bảo tồn di sản và các giải pháp bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Các giải pháp cụ thể bao gồm tác động môi trường của phương án quy hoạch, xử lý nước thải, chống ô nhiễm, bảo tồn cảnh quan ven sông và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Phương án quy hoạch xác định sông Lô là mạch nguồn cảm hứng và vùng lõi xanh, kết hợp các mô hình tiên tiến như TOD (Transit-Oriented Development) và Đô thị thông minh (Smart City), tạo ra một vùng động lực mới, nâng tầm vị thế đô thị Việt Trì trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc.

1.1. Bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và nhu cầu phát triển đô thị mới mở rộng

Việt Nam đang trong giai đoạn sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp tỉnh nhằm tối ưu hóa nguồn lực và không gian phát triển. Quyết định của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính, trong đó sáp nhập tỉnh Vĩnh Phúc và Hòa Bình (cũ) vào Phú Thọ, là cơ sở pháp lý và động lực quan trọng thúc đẩy việc lập đồ án Quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 phát triển đô thị hai bên bờ sông Lô.

Đô thị Việt Trì mới, được xác định là trung tâm hành chính - chính trị của tỉnh Phú Thọ mở rộng, phải đối mặt với áp lực gia tăng dân số cơ học, nhu cầu về nhà ở, dịch vụ xã hội và đặc biệt là sự đồng bộ hóa về hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Việc mở rộng đô thị sang khu vực hai bên bờ sông Lô, bao gồm cả phần đất thuộc địa giới hành chính Vĩnh Phúc (cũ), là một chiến lược tất yếu nhằm: Phân tán áp lực phát triển khỏi khu vực Việt Trì hiện hữu, nơi tập trung các di tích lịch sử quan trọng; Khai thác không gian cảnh quan độc đáo ven sông, tạo ra một trung tâm đô thị mới có chất lượng sống cao, gắn liền với thiên nhiên; Tạo ra vùng động lực mới (Driving zone) nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội và kết nối giữa các khu vực mới và cũ của tỉnh.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Đồ án quy hoạch phân khu này cụ thể hóa định hướng của Quy hoạch tỉnh Phú Thọ và điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Việt Trì đến năm 2040. Tổng diện tích lập quy hoạch khoảng 11.547,1 ha, trải dài trên địa giới hành chính của nhiều xã, phường thuộc cả Phú Thọ (cũ) và Vĩnh Phúc (cũ).

Tầm nhìn quy hoạch: hình thành đô thị Việt Trì mở rộng với định hướng “Đồng bộ, đặc sắc, gắn kết giữa cội nguồn dân tộc với văn minh hiện đại”. Xây dựng một đô thị xanh bền vững, khai thác tối đa lợi thế cảnh quan sông Lô.

Trên cơ sở đó, mục tiêu nghiên cứu của bài báo hướng tới phân tích chiến lược quy hoạch không gian và hạ tầng kỹ thuật nhằm cân bằng giữa hai yếu tố then chốt: Văn hóa - Di sản và Môi trường - Bền vững.

Khu vực Phú Thọ, đặc biệt là Việt Trì, được mệnh danh là “Đất Tổ”, mang trong mình giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc. Do đó, quy hoạch đô thị hai bên sông Lô không thể tách rời chiến lược bảo tồn và phát huy di sản.

Trong dòng chảy quy hoạch vùng trung du và miền núi phía Bắc, Việt Trì không chỉ là thủ phủ của Phú Thọ mà đang dần trở thành trung tâm liên kết của một “siêu tỉnh” sau sáp nhập Phú Thọ - Vĩnh Phúc - Hòa Bình. Xét trong quy hoạch vùng trung tâm của trung du miền núi phía Bắc (gồm Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu), Việt Trì được xem như một cực tăng trưởng chiến lược, kết nối các hành lang kinh tế lớn đi Hà Nội, Lào Cai, Điện Biên và vùng Đông Bắc. (Hình 1)

2.1. Định vị sông Lô là trục cảnh quan văn hóa lịch sử

Sông Lô được định vị không chỉ là một tuyến giao thông thủy hay nguồn nước, mà là mạch nguồn cảm hứng và trục xương sống sinh thái - văn hóa của đô thị mới mở rộng. Vành đai sinh thái - văn hóa (dải công viên ven sông) nên được quy hoạch dành một diện tích lớn ven sông Lô để hình thành dải công viên cây xanh sinh thái và hành lang không gian công cộng.

Chiến lược này giúp tạo ra một vùng đệm tự nhiên, ngăn xây dựng đô thị hóa tràn lan ven sông và là tiền đề tạo ra các không gian mở để tổ chức các hoạt động lễ hội, sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch sinh thái… Trực tiếp đưa giá trị văn hóa và lịch sử truyền thống vào không gian sinh hoạt cộng đồng đô thị.

Đồng thời, nên lấy sông Lô làm trục phát triển cốt lõi theo trục Bắc - Nam, thay vì chỉ là ranh giới hành chính như trước đây. Tuy nhiên, cần lưu ý vấn đề trị thủy cùng dành vị trí và hành lang thoát lũ cho toàn hệ thống sông theo hướng dòng chảy Tây Bắc - Đông Nam.

Trên cơ sở đó, cần kết hợp khai thác và gắn kết với du lịch di sản về nguồn cội. Các di tích lịch sử và văn hóa (bao gồm di sản vật thể và phi vật thể) trong khu vực quy hoạch cần phải được lập danh mục chi tiết, xác định hành lang bảo vệ và xây dựng hệ thống kết nối. Thay vì cô lập, các di tích này được kết nối bằng các trục giao thông cảnh quan và đường đi bộ ven sông, tích hợp vào mạng lưới du lịch của thành phố Lễ hội. Ví dụ, việc kết nối khu đô thị mới với khu di tích lịch sử Đền Hùng (thuộc phạm vi quy hoạch phân khu lân cận) thông qua các tuyến đường giao thông đối ngoại chất lượng cao sẽ tạo thành một tour du lịch “Về với cội nguồn” kết hợp nghỉ dưỡng và trải nghiệm đô thị mới.

Từ đó, tạo ra khả năng và cơ hội để hình thành du lịch liên vùng Đền Hùng - Tam Đảo - Mai Châu. Trong đó, Phú Thọ sẽ thiên về du lịch tâm linh và văn hóa lễ hội (Đền Hùng, hát Xoan), Vĩnh Phúc sẽ thiên về du lịch nghỉ dưỡng gắn với sơn thủy (Tam Đảo, Đại Lải) và Hòa Bình sẽ thiên về du lịch sinh thái gắn với bản sắc nông lâm ngư nghiệp địa phương (Mai Châu, Kim Bôi, hồ Hòa Bình). Tạo điều kiện lý tưởng để phát triển các chuỗi du lịch liên kết 3 trong 1, kéo dài thời gian lưu trú, tăng chi tiêu của du khách, đồng thời quảng bá thương hiệu vùng ra quốc tế…

2.2. Tổ chức không gian dựa trên nguyên tắc bảo tồn và kết nối

Quy hoạch phân khu chia khu vực nghiên cứu thành 5 phân khu chức năng dựa trên các tài liệu, gồm: Báo cáo phương án Quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 phát triển đô thị khu vực hai bên bờ sông Lô, số 1024/SXD-QHKT ngày 13/8/2025 của Sở Xây dựng Phú Thọ và Báo cáo chủ trương nghiên cứu Quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 phát triển khu đô thị hai bên bờ sông Lô và kế hoạch lập quy hoạch phân khu theo Quy hoạch chung thành phố Việt Trì (cũ) số 105/BC-SXD ngày 03/9/2025 của Sở Xây dựng Phú Thọ. Trong đó, với việc phân khu chức năng, đã xác định rõ tính chất, chức năng chính của từng phân khu đô thị, được gắn kết với vai trò của tài nguyên văn hóa và di sản. Từ đó, có xu hướng trở thành đô thị hỗn hợp đa chức năng. (Bảng 1)    

Việc di chuyển Trung tâm hành chính mới sang khu vực ven sông Lô (Phân khu 5) là một chiến lược táo bạo. Hướng tới quy hoạch này không chỉ giúp giảm áp lực xây dựng và mật độ dân cư lên khu vực Việt Trì cũ (gần các di tích lịch sử), mà còn tạo ra một không gian công cộng đại diện, nơi kiến trúc hiện đại hòa hợp với yếu tố sông nước, tượng trưng cho sự phát triển tiếp nối của “Thành phố Lễ hội” trong kỷ nguyên mới.

Tuy vậy, cũng nên xem xét tính pháp lý khi chưa có quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch chung, sau khi chính quyền 2 cấp đi vào hoạt động. Điều đó có nghĩa, cần cân nhắc sự logic và tính khả thi khi tích hợp các đồ án quy hoạch phân khu này vào các đồ án quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch chung sau này.

Phát triển đô thị trên nền tảng bền vững, đặc biệt là tại khu vực sông nước, đòi hỏi một chiến lược tổng thể về hạ tầng kỹ thuật và quản lý môi trường theo chuẩn mực môi trường, xã hội và quản trị ESG (Environmental, Social and Governance).

3.1. Thiết kế đô thị xanh và ứng dụng mô hình TOD

Quy hoạch lấy chiến lược đô thị xanh bền vững làm kim chỉ nam, được thể hiện qua 2 giải pháp không gian và giao thông then chốt sau đây:

3.1.1. Lõi xanh sông Lô (Green Core Strategy)

Sông Lô chảy qua địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), sông Đà chảy qua tỉnh Hòa Bình (cũ) đều cùng với sông Hồng hợp lưu tại Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Sông Lô với chiều rộng quy hoạch lớn, được giữ lại làm vùng đệm xanh tự nhiên, đối lập với mô hình đô thị hóa lấn sông truyền thống. Trong đó, cần lưu ý đến mật độ xây dựng và bố trí quy hoạch hệ thống hồ, đầm điều hòa cho các phân khu, gồm:

+ Kiểm soát mật độ xây dựng thông qua việc áp dụng các quy chuẩn xây dựng với mật độ thấp tại các phân khu ven sông (phân khu 1, 4, 5) để tối đa hóa không gian xanh, tăng khả năng thấm nước và giảm thiểu tác động đến dòng chảy.

+ Phát triển hệ thống công viên - hồ đầm bằng việc khai thác các mặt nước hồ đầm hiện hữu (như tại phân khu 1) để xây dựng hệ thống hạ tầng xanh, vừa là cảnh quan, vừa là công trình điều tiết nước mưa và chống ngập úng.

3.1.2. Mô hình giao thông TOD (Transit-Oriented Development)

Việc tích hợp tuyến đường sắt tốc độ cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng chạy qua khu vực là cơ hội để áp dụng mô hình TOD (phân khu 3 và 4), một giải pháp phát triển đô thị theo hướng hiện đại hàng đầu hiện nay. Tuy nhiên, để mô hình này thực sự hiệu quả, cần bổ sung thêm giải pháp giao thông dành cho người đi bộ POD (Person Oriented Development) tại các không gian mở, không gian công cộng, nhằm thỏa mãn các chức năng kết nối…

Sự kết hợp hai giải pháp giao thông này sẽ giải quyết giảm thiểu khí thải và ô nhiễm khi phát triển đô thị mật độ cao và đa chức năng quanh nhà ga đường sắt. Sẽ khuyến khích người dân sử dụng phương tiện giao thông công cộng, giảm sự phụ thuộc vào ôtô cá nhân, từ đó giảm đáng kể khí thải CO2 và ô nhiễm không khí. Đồng thời, tối ưu hóa tài nguyên đất, thông qua TOD giúp sử dụng đất đai hiệu quả, tránh phát triển phân tán (urban sprawl), bảo vệ đất nông nghiệp và các vùng sinh thái lân cận.

3.2. Giải pháp quản lý nước và xử lý môi trường

Tác động môi trường lớn nhất của phương án quy hoạch là việc xây dựng trên nền đất bãi ven sông và gia tăng tải lượng ô nhiễm từ dân số mới. Để giải quyết vấn đề này, quy hoạch phải đảm bảo hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, thông minh, có kiểm soát, bao gồm:

+ Xử lý nước thải tập trung: toàn bộ khu đô thị mới bắt buộc phải xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải riêng biệt (tách riêng với nước mưa). Cần xây dựng các trạm xử lý nước thải tập trung theo công nghệ tiên tiến, đảm bảo nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra sông Lô, nhằm chống ô nhiễm nguồn nước mặt. Các KCN (KCN sông Lô I, II, III thuộc Phân khu 2) phải có hệ thống xử lý riêng đạt chuẩn nghiêm ngặt.

+ Quản lý chất thải rắn: áp dụng công nghệ đô thị thông minh (Smart City) vào quản lý chất thải rắn, bao gồm thu gom, phân loại tại nguồn và xử lý bằng công nghệ đốt phát điện hoặc tái chế, giảm thiểu chôn lấp, hạn chế ô nhiễm đất và nước ngầm.

+ Bảo vệ chất lượng không khí: ngoài giải pháp TOD và POD, quy hoạch cần tăng cường các vành đai cây xanh cách ly giữa khu công nghiệp (Phân khu 2) và khu dân cư, đồng thời quản lý nghiêm ngặt việc phát thải từ các nhà máy.

3.3. Ứng phó với biến đổi khí hậu và rủi ro lũ lụt

Quy hoạch đô thị ven sông luôn đối diện với rủi ro lũ lụt, sạt lở bờ sông do biến đổi khí hậu (BĐKH). Vì vậy, cần lồng ghép các nội dung sau vào đồ án quy hoạch chung và các quy hoạch phân khu, bao gồm:

+ Kiểm soát phát triển vùng lũ: tuyệt đối tuân thủ các quy định về đê điều và quy hoạch phòng chống lũ. Các công trình xây dựng, đặc biệt là nhà ở và khu công nghiệp, phải được bố trí ngoài phạm vi hành lang thoát lũ và vùng nguy hiểm, hoặc áp dụng giải pháp xây dựng công trình chịu lũ (nếu được phép).

+ Hạ tầng thoát nước và điều tiết: thiết kế hệ thống thoát nước đô thị với khả năng tiêu thoát lớn, kết hợp sử dụng các hồ điều hòa (như tại Phân khu 1) làm bể chứa nước tạm thời, giảm áp lực lên hệ thống tiêu thoát chính trong mùa mưa lũ.

+ Bảo tồn bờ sông (chống sạt lở): ưu tiên giải pháp kè sinh thái (Biotechnical Solutions) hoặc trồng cây xanh ven bờ thay vì kè bê tông hóa. Giải pháp kỹ thuật này không chỉ bảo tồn cảnh quan tự nhiên mà còn tăng cường khả năng chống xói mòn và sạt lở bờ sông, thích ứng với sự thay đổi của dòng chảy do BĐKH.

Để đồ án Quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 phát triển đô thị hai bên bờ sông Lô tỉnh Phú Thọ mở rộng thực sự là một nghiên cứu chiến lược, đồng bộ, giải quyết song hành và hiệu quả bài toán “sắp xếp hành chính - mở rộng không gian” và “bảo tồn văn hóa - phát triển bền vững”, cần lồng ghép, tích hợp các mô hình quy hoạch có tính liên ngành, đi cùng các giải kỹ thuật tiên tiến, trong đó sông Lô đóng vai trò là nhân tố kết nối và cốt lõi sinh thái. Việc áp dụng mô hình TOD, POD và phát triển đô thị thông minh hứa hẹn tạo ra một trung tâm đô thị mới có sức cạnh tranh cao, không chỉ phục vụ nhu cầu kinh tế mà còn nâng cao chất lượng môi trường và đời sống tinh thần của người dân.

Những đề xuất từ những nghiên cứu này, không những cho đô thị Việt Trì, mà còn đóng góp vào lý luận quy hoạch đô thị Việt Nam trong bối cảnh sắp xếp các đơn vị hành chính và BĐKH, bao gồm:

+ Định hướng sử dụng hệ sinh thái sông nước làm trục phát triển cốt lõi, thay vì chỉ là ranh giới hành chính.

+ Lồng ghép các yếu tố văn hóa cội nguồn và di sản văn hóa một cách hữu cơ vào thiết kế không gian đô thị hiện đại thông qua các trục cảnh quan và không gian công cộng ven sông.

+ Áp dụng chiến lược hạ tầng xanh - thông minh để giải quyết đồng thời các thách thức về ô nhiễm môi trường, lũ lụt, sạt lở và hiệu quả năng lượng.

Để đồ án đạt được hiệu quả tối ưu và tính bền vững lâu dài, cần có những hành động cụ thể sau:

+ Chi tiết hóa kế hoạch bảo tồn: lập kế hoạch chi tiết về việc trùng tu, phục dựng và kết nối các di tích lịch sử hiện hữu (vật thể và phi vật thể) trong khu vực quy hoạch, đảm bảo không gian đô thị mới tôn vinh được giá trị “Thành phố Lễ hội về với cội nguồn dân tộc”.

+ Đầu tư ưu tiên cho hạ tầng môi trường: Chính phủ và tỉnh cần ưu tiên vốn cho các dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung và hạ tầng thoát nước thông minh, xem đây là điều kiện tiên quyết trước khi phát triển các khu định cư mới.

+ Thực hiện mô hình TOD và POD nghiêm túc: đảm bảo việc phát triển mật độ cao chỉ diễn ra trong bán kính đi bộ quanh ga đường sắt và các trạm dừng giao thông công cộng, tránh sự lãng phí đất đai và phát triển đô thị không kiểm soát.

Với chiến lược quy hoạch toàn diện này, khu đô thị hai bên bờ sông Lô sẽ trở thành hình mẫu về sự cân bằng giữa Cội nguồn - Phát triển - Bền vững. Tạo ra một vùng động lực mới, nâng tầm vị thế đô thị Việt Trì trong khu vực trung du và miền núi phía Bắc. Hơn thế, việc sáp nhập 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ và Hòa Bình không chỉ là câu chuyện hành chính, mà là cơ hội chiến lược để kiến tạo một vùng phát triển mới, năng động, bản sắc và kết nối. Với sự đồng thuận của cộng đồng, định hướng quy hoạch đúng đắn và tầm nhìn dài hạn, tỉnh Phú Thọ mới nói chung và đô thị Việt Trì nói riêng hoàn toàn có thể trở thành hình mẫu phát triển vùng và đô thị đa trung tâm, đa chức năng, hiệu quả tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Công ước quốc tế về Du lịch văn hoá (đã được Hội đồng Di tích và Di chỉ quốc tế ICOMOS thông qua tại Đại Hội đồng lần thứ 12 ở Mexico, tháng 10/1999).

2. Hiến chương về Di sản xây cất bản xứ (đã được Hội đồng Di tích và Di chỉ quốc tế ICOMOS thông qua tại Đại Hội đồng lần thứ 12 ở Mexico, tháng 10/1999).

3. Butler, B. (2006). Heritage and the Present Past. In Handbook of Material Culture, edited by C. Tilley, W. Keane, S. Kuchler, M. Rowlands, and P. Spyer. London : Sage.

4. Byrne, D. (2008). Heritage as Social Action. In g. Fairclough et al. (Eds), The Heritage Reader. London, Routledge.

5. Nguyễn Tất Thắng “Văn hóa kiến trúc bản địa kết hợp với công nghệ 4.0 - Cuộc cách mạng hóa Kiến trúc theo xu hướng bền vững” - Tạp chí Xây dựng - Bộ Xây dựng, số 09/2021.

6. Nguyễn Tất Thắng “Văn hóa và Kiến trúc Việt Nam - Sự chuyển hóa và duy trì tiếp nối bản sắc theo xu thế phát triển bền vững” - Slider tham luận tại hội thảo khoa học quốc tế : Kiến trúc tạo lập không gian bền vững cho cộng đồng, tháng 9/2023 tại TP Phú Quốc.

7. Nguyễn Tất Thắng “Lưu truyền hữu thức văn hóa bản địa qua hoạt động du lịch - Giải pháp song hành để bảo tồn và phát huy kiến trúc nhà ở truyền thống tại miền Trung Việt Nam”. Sách Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Bảo tồn và phát huy các giá trị nhà truyền thống nông thôn gắn với phát triển du lịch khu vực miền Trung” - NXB Xây dựng tháng 9/2025.

8. https://senvangdata.com.vn/tinh-phu-tho-moi-sau-sap-nhap-vinh-phuc-hoa-binh-phu-tho-hinh-thanh-sieu-vung-kinh-te-du-lich-chien-luoc-phia-tay-ha-noi.html

TS.KTS Nguyễn Tất Thắng
Thế Công