Giải ngân đầu tư công và độ trễ của thị trường vật liệu xây dựng

08:06 06/04/2026
Những chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ về thúc đẩy giải ngân đầu tư công đang tạo kỳ vọng lớn cho tăng trưởng năm 2026. Tuy nhiên, trên thực tế, thị trường vật liệu xây dựng vẫn vận động chậm hơn kỳ vọng, phản ánh rõ độ trễ giữa chính sách và triển khai.
Giải ngân đầu tư công và độ trễ của thị trường vật liệu xây dựng
Ảnh minh họa

Kỳ vọng chính sách: Đầu tư công giữ vai trò “đầu kéo”

Từ đầu năm 2026, Chính phủ liên tục có các văn chỉ đạo, yêu cầu đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, coi đây là một trong những động lực then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Theo các nghị quyết điều hành kinh tế - xã hội và báo cáo của Bộ Tài chính, tổng vốn đầu tư công năm nay tiếp tục duy trì ở mức cao, với mục tiêu giải ngân đạt trên 95% kế hoạch.

Đáng chú ý, ngày 04/4 vừa qua, Thủ tướng đã ban hành loạt quyết định điều chỉnh quy hoạch 6 vùng kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050. Các văn bản này đều xác định phát triển hạ tầng, đặc biệt là giao thông liên vùng, là trục xương sống, từ đó hình thành các hành lang kinh tế và cực tăng trưởng mới.

Theo phân tích của Bộ Tài chính trong các báo cáo gần đây, nếu tiến độ giải ngân được cải thiện, đầu tư công có thể đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP, đồng thời tạo hiệu ứng lan tỏa sang các ngành liên quan. Với lĩnh vực vật liệu xây dựng (VLXD), đây được xem là đầu ra lớn nhất, bởi mỗi dự án hạ tầng đều tiêu thụ khối lượng lớn thép, xi măng, đá và vật liệu san lấp.

Một số báo cáo ngành của các công ty chứng khoán như SSI Research hay VNDirect cũng nhận định, trong kịch bản tích cực, nhu cầu VLXD nội địa năm 2026 có thể tăng trưởng hai con số, chủ yếu nhờ các dự án giao thông trọng điểm.

Thực tế triển khai: Độ trễ kéo dài của thị trường

Tuy nhiên, diễn biến thực tế trong quý I cho thấy khoảng cách đáng kể giữa kỳ vọng chính sách và vận hành thị trường. Báo cáo giải ngân của Bộ Tài chính cho thấy tỷ lệ giải ngân những tháng đầu năm vẫn ở mức thấp so với kế hoạch, tiếp tục lặp lại xu hướng quen thuộc khi tiến độ thường dồn vào nửa cuối năm.

Độ trễ này phản ánh trực tiếp vào thị trường VLXD. Theo số liệu từ Cục Thống kê, sản xuất và tiêu thụ xi măng, thép xây dựng trong quý đầu năm chỉ tăng nhẹ, thậm chí một số thời điểm ghi nhận mức tăng trưởng thấp hơn cùng kỳ. Cụ thể, sản lượng thép xây dựng quý I chỉ tăng khoảng 3 - 5% so với cùng kỳ; tiêu thụ xi măng nội địa tăng dưới 5%, trong khi công suất toàn ngành vẫn dư thừa khoảng 25 - 30%. Một số doanh nghiệp lớn ghi nhận tỷ lệ sử dụng công suất chỉ đạt 60 - 70%. Nhiều doanh nghiệp trong ngành cho biết, đơn hàng từ các dự án hạ tầng chưa tăng như kỳ vọng, khiến công suất chưa được khai thác tối đa.

Trong khi đó, theo Hiệp hội Xi măng Việt Nam, tổng công suất thiết kế toàn ngành đã vượt 120 triệu tấn/năm, nhưng nhu cầu nội địa chỉ dao động quanh 60 - 65 triệu tấn, khiến áp lực dư cung kéo dài.

Nguyên nhân chủ yếu vẫn đến từ các điểm nghẽn quen thuộc: Thủ tục đầu tư kéo dài, vướng mắc GPMB, quá trình điều chỉnh dự án phức tạp và tâm lý thận trọng trong thực thi. Những yếu tố này khiến dòng vốn đầu tư công chưa thể đi vào nền kinh tế với tốc độ cần thiết.

Hệ quả là thị trường VLXD rơi vào trạng thái “chờ đợi”. Trong khi doanh nghiệp đã chuẩn bị cho chu kỳ tăng trưởng từ tăng sản lượng đến dự trữ nguyên liệu thì nhu cầu thực tế lại chưa bứt phá. Điều này làm gia tăng áp lực tồn kho và ảnh hưởng đến dòng tiền.

Song song đó, ngành này còn chịu sức ép từ chi phí đầu vào. Chẳng hạn giá than, nguyên liệu chiếm 30 - 40% giá thành xi măng vẫn duy trì ở mức cao. Bên cạnh đó, giá điện sản xuất tăng khoảng 3 - 5% trong năm 2025 - 2026, chi phí logistics chiếm 10 - 15% giá thành chưa có dấu hiệu giảm.

Bên cạnh đó, giá năng lượng và vận chuyển có xu hướng biến động, trong khi giá bán khó điều chỉnh do sức cầu yếu. Một số doanh nghiệp xi măng tiếp tục phải cạnh tranh bằng giá trong bối cảnh dư cung, còn ngành thép chịu thêm áp lực từ hàng nhập khẩu giá rẻ, đặc biệt từ Trung Quốc và ASEAN.

Yêu cầu điều hành và bài toán hiệu quả

Trước thực trạng trên, Chính phủ đang tiếp tục siết chặt kỷ luật giải ngân, yêu cầu người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp về tiến độ. Đồng thời, các biện pháp như phân cấp mạnh hơn, rút gọn thủ tục và điều chuyển vốn từ dự án chậm sang dự án có khả năng giải ngân tốt cũng được đẩy mạnh.

Tuy vậy, theo nhiều chuyên gia, vấn đề không chỉ nằm ở tốc độ giải ngân mà còn ở chất lượng đầu tư. TS Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, từng nhận định trong một hội thảo gần đây rằng việc đẩy nhanh giải ngân cần đi kèm với kiểm soát hiệu quả, tránh tình trạng “giải ngân bằng mọi giá” dẫn đến lãng phí hoặc đầu tư kém hiệu quả.

Đối với ngành VLXD, điều này đặc biệt quan trọng. Lịch sử cho thấy các chu kỳ tăng trưởng phụ thuộc quá lớn vào đầu tư công có thể dẫn đến tình trạng dư thừa công suất khi nhu cầu giảm tốc. Vì vậy, bên cạnh việc chờ đợi cú hích từ hạ tầng, nhiều doanh nghiệp đang chủ động tái cơ cấu, mở rộng thị trường xuất khẩu và đầu tư vào các dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

Về trung hạn, khi các dự án hạ tầng lớn thực sự được triển khai đồng loạt, đặc biệt từ nửa cuối năm, thị trường VLXD được kỳ vọng sẽ chuyển sang trạng thái tích cực hơn. Tuy nhiên, mức độ phục hồi đến đâu sẽ phụ thuộc trực tiếp vào khả năng tháo gỡ các điểm nghẽn hiện hữu. 

Theo các chuyên gia nhận định, nếu giải ngân được cải thiện từ quý II và tăng tốc trong nửa cuối năm thì nhu cầu VLXD có thể phục hồi rõ rệt từ quý III. Sản lượng tiêu thụ thép và xi măng có thể đạt mức tăng 8 - 12% cả năm; công suất ngành được cải thiện lên mức 75 - 80%.  Ngược lại, nếu độ trễ tiếp tục kéo dài, thị trường sẽ đối mặt với chu kỳ phục hồi chậm hơn dự kiến; áp lực tài chính gia tăng đối với các doanh nghiệp.

Đầu tư công tiếp tục là “đầu kéo” quan trọng của nền kinh tế năm 2026, với quy mô vốn lớn và khả năng lan tỏa rộng. Tuy nhiên, khoảng cách giữa chính sách và thực thi thể hiện qua tỷ lệ giải ngân thấp trong quý I đang làm suy giảm hiệu quả dẫn dắt đối với thị trường VLXD.

Trong bối cảnh đó, bài toán đặt ra không chỉ là đẩy nhanh tiến độ, mà còn phải nâng cao chất lượng giải ngân. Chỉ khi dòng vốn thực sự đi vào nền kinh tế đúng thời điểm và đúng mục tiêu, kỳ vọng tăng trưởng mới có thể chuyển hóa thành kết quả thực chất không chỉ với ngành VLXD, mà với toàn bộ nền kinh tế.

Bình luận
Nhà ở xã hội SUNRISE HOME Ngọc Hồi Công ty Xe đạp Thống Nhất