Giải pháp tổ chức không gian cư trú dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc thích ứng biến đổi khí hậu

Nghiên cứu này đề xuất 03 giải pháp tổ chức không gian cư trú các dân tộc thiểu số theo cấp độ bản, làng; cấp độ khuôn viên và cấp độ ngôi nhà ở thích ứng với biến đổi khí hậu, sạt lở đất theo hướng xanh.
Giải pháp tổ chức không gian cư trú dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc thích ứng biến đổi khí hậu
Ảnh minh họa, nguồn: ITN.

1. Đặt vấn đề

Nước ta là quốc gia có nhiều đồi núi, chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ và đa phần là đồi núi thấp. Khu vực miền núi phía Bắc bao gồm vùng đồi núi Tây Bắc và Đông Bắc, trong đó khu vực Tây Bắc chủ yếu là núi trung bình và núi cao, cao nhất là dãy núi Hoàng Liên Sơn trên 2500 m, đỉnh núi cao nhất là Fansipan (3.143 m); khu vực Đông Bắc là núi trung bình và núi thấp, cao nhất là dãy núi thượng nguồn sông Chảy có nhiều đỉnh cao trên dưới 2000 m và thấp dần về phía biển. Từ đó, cho thấy khả năng sạt lở đất do lũ ống, lũ quét xảy ra tại khu vực miền núi phía Bắc là rất lớn. 

Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai trong vòng 20 năm qua, mỗi năm tại Việt Nam thiên tai cướp đi sinh mạng của hơn 400 người và hàng nghìn người bị thương, thiệt hại kinh tế trên 1,5 tỷ USD. Mưa lũ, sạt, xói lở đất còn ảnh hưởng nặng nề đến mọi mặt phát triển kinh tế, xã hội và đời sống của người dân.

Chỉ tính riêng thiệt hại do bão Yagi vào tháng 9 năm 2024 đã gây ra là rất nặng nề, có 352 người chết và mất tích. Đơn cử như tại một số khu vực địa phương tại miền núi phía Bắc như Lào Cai có 118 người chết, 61 người mất tích, 84 người bị thương; Yên Bái: 53 người chết, 02 người mất tích; Cao Bằng: 43 người chết, 09 người mất tích; Hòa Bình: 07 người chết; số nhà bị hư hỏng là 168.253 ngôi nhà; nhiều nghìn ha lúa, hoa màu, vườn cây ăn quả bị ngập úng, thiệt hại nặng nề; hàng nghìn lồng bè nuôi trồng thuỷ sản bị hư hỏng, cuốn trôi do lũ (Hình 1).

Hình 1. Một số hình ảnh sạt lở đất do lũ ống, lũ quét tại khu vực miền núi phía Bắc

Hiện nay, có nhiều nghiên cứu cũng như các giải pháp thực tiễn chống xói mòn, sạt lở đất tại vùng miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, nghiên cứu này tiếp tục đề xuất một giải pháp theo hướng xanh đó là giải pháp hạn chế can thiệp vào chống lại BĐKH, sạt lở đất  mà tập trung vào giải pháp kế thừa các giá trị tri thức bản địa trong việc chung sống hài hòa, thích ứng với lũ ống, lũ quét, ngập lụt và sạt lở đất của các dân tộc địa phương miền núi phía Bắc nói riêng cũng như các địa phương khác trong cả nước nói chung.

Giải pháp này cho phép vừa có khả năng chống sạt lở đất, thích ứng với BĐKH, vừa thân thiện với môi trường, giảm Net Zero, tạo lập tín chỉ carbon nhằm giảm lượng khí thải carbon và đặc biệt giúp tăng cường sinh kế cho người dân tại vùng miền núi phía Bắc. Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất giải pháp tổ chức không gian cư trú các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc thích ứng với BĐKH, sạt lở đất theo hướng xanh là rất cần thiết và cấp bách.

Trong bài viết này, không gian cư trú được hiểu là khu dân cư nông thôn có phạm vi khu vực có ranh giới nhất định, nơi cộng đồng dân cư sinh sống và sản xuất nông nghiệp, gắn bó với nhau bởi huyết thống gia đình, dòng tộc hoặc cùng nhau thụ hưởng môi trường sống tại nông thôn; bao gồm không gian ở, không gian sản xuất và không gian sinh hoạt, tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng dân cư; không gian cư trú được hiểu theo 03 cấp độ không gian, đó là: không gian bản, làng; khuôn viên và không gian nhà ở [3]. Theo đó, nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào việc tổ chức, sắp xếp các không gian chức năng ở, sản xuất sinh kế trong các bản, làng thích ứng với BĐKH, sạt lở đất.

Từ những vấn đề nêu trên, mục tiêu của nghiên cứu đề xuất các giải pháp về tổ chức không gian cư trú các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nhằm thích ứng với BĐKH, sạt lở đất giúp đảm bảo an toàn sinh mạng và nâng cao chất lượng sống, tạo lập sinh kế cho người dân. Kết quả nghiên cứu đề xuất được 03 giải pháp tổ chức không gian bản, làng; không gian khuôn viên và không gian nhà ở thích ứng với biến đổi khí hậu, sạt lở đất theo hướng xanh. 

2. Những kinh nghiệm chống sạt lở đất từ thực tiễn

Sạt lở đất được phân ra gồm 05 dạng dịch chuyển, trượt của đất như sau: (i) sụt lún; (ii) lật; (iii) trượt; (iv) lan rộng; (v) chảy [4]. Sau những trận mưa lớn với cường độ cao sẽ gây ra lũ quét, lũ ống và dẫn đến sạt lở đất. Theo Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS) có 03 nguyên nhân gây ra xói mòn, sạt lở đất, đó là: (i) địa chất (geological causes); (ii) Hình thái của nền đất (Morphological causes); (iii) Hoạt động của con người (Human causes).

Trong đó, địa chất do cấu trúc của vật liệu đất, đá bị yếu, phong hóa nên dẫn đến rời rạc hoặc các địa tầng khác nhau có thể tạo nên độ cứng và độ bền khác nhau; đặc điểm địa hình bị chia cắt, độ dốc lớn; do đứt gẫy địa chất, tạo nên các khe nứt. Hình thái của nền đất do độ dốc lớn, bị xói mòn tự nhiên do thảm thực vật phong hóa đất làm mất khả năng giữ đất, giữ nước làm trôi, trượt đất; các dòng chảy của sông, suối dần khoét sâu vào kết cấu của đất, đá; quá trình biến động do kiến tạo của nền đất tự nhiên.

Hoạt động của con người làm phá hủy thảm thực vật bề mặt do đốt, chặt phá rừng; thay đổi hình thái nhân tạo do cắt xẻ sườn đồi núi để làm đường đi hoặc xây dựng nhà ở làm mất chân dốc tự nhiên và tăng tải trọng lên bề mặt đất dốc.

Bên cạnh đó, việc gây ô nhiễm môi trường, tăng phát thải nhà kính đã làm biến đổi khí hậu, gây ra nhiệt độ tăng, băng tan, nước biển dâng cao cũng là những tác động lớn đến khả năng sạt lở đất.

Từ những nguyên nhân trên, nhằm đảm bảo ổn định đời sống, con người đã luôn quan tâm chống trả hoặc thích ứng với lũ ống, lũ quét và sạt lở đất tại miền núi phía Bắc. Dưới đây là tổng hợp các kinh nghiệm đang thực hiện chống sạt lở đất bằng khoa học, công nghệ và kinh nghiệm tri thức bản địa giúp tìm ra một giải pháp thích ứng theo hướng xanh và tạo lập nguồn sinh kế mới cho người dân.

2.1. Kinh nghiệm đang triển khai hiện nay

Tại các quốc gia trên thế giới và Việt Nam đều đang tập trung vào 02 nhóm giải pháp trọng tâm trong việc ứng phó với lũ ống, lũ quét và sạt lở đất, đó là: phòng và chống sạt lở đất.

Trong đó, phòng sạt lở đất được ứng dụng trí tuệ nhân tạo địa không gian (GeoAI), công nghệ địa lý thông tin (GIS) và trí tuệ nhân tạo (AI) giúp phân vùng nguy cơ và lập bản đồ nguy cơ rủi ro chi tiết cho từng khu vực; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm như cảnh báo sạt lở dựa trên lượng mưa tích lũy, sử dụng thiết bị cảm biến độ ẩm của đất, cảm biến độ dịch chuyển mặt đất kết hợp công nghệ Internet vạn vật (IoT) và hình ảnh vệ tinh để theo dõi biến dạng của các sườn dốc nằm trong bản đồ nguy cơ; quản lý rủi ro, cấm xây dựng nhà cửa tại các sườn dốc nguy hiểm, độ dốc lớn hoặc vùng thường xuyên xảy ra trượt lở đất; sơ tán dân cư và hướng dẫn nâng cao nhận thức của cộng đồng, người dân tại địa phương thường xuyên được tham gia diễn tập sơ tán đến nơi an toàn, hướng dẫn nhận biết các dấu hiệu sạt lở đất như hiện tượng mặt đất nứt, cây nghiêng hoặc tiếng động khác thường trong lòng đất. 

Về chống sạt lở đất với giải pháp vật lý “cứng” gồm: (i) tạo ổn định mái đất dốc bằng biện pháp xây tường chắn đất như các loại tường trọng lực (dùng rọ đá xếp, xây tường đá hộc), tường cọc (đóng tường cừ, cọc vây, tường barret), tường chắn có cốt kim loại, tường chắn kiểu console néo vào sườn đất dốc; (ii) gia cường đất bằng biện pháp neo đất, đinh đất, vải và lưới kỹ thuật (Hình 2); (iii) ổn định mái dốc nhưng không gia cường đất như biện pháp chèn đá dăm, làm giật cấp sườn dốc, đào rãnh thoát nước ngầm để làm khô bề mặt sườn dốc; ổn định mái đất dốc bằng hệ thống lưới thép 2D-Geo là loại lưới thép cường độ cao với các mắt lưới hình thoi được thiết kế để ổn định sườn dốc và ngăn ngừa xói mòn; ổn định mái dốc bằng biện pháp cọc neo đất được làm từ thanh hoặc que thép, cọc neo đất được lắp đặt vào sườn dốc theo một góc để ổn định nền đất [13].

Tại Nhật Bản, hiện đang sử dụng hệ thống đập Sabo xây dựng trên dòng chảy của khe núi để cản đất đá, lũ ống, lũ quét trong khi nước vẫn chảy qua đập giúp giảm thiểu tối đa sức tàn phá của đất, đá, cây rừng trước khi dòng chảy xuống đến các khu dân cư nông thôn dưới sườn dốc. Tại miền núi phía Bắc, Nhật Bản cũng đã giúp xây dựng thử nghiệm thành công đập Sabo theo tiêu chuẩn Nhật Bản tại suối Nặm Păm, bản Piệng, Sơn La.

Hình 2. Gia cố bằng đinh đất kết hợp với lưới thép và lưới vải địa kỹ thuật

Về chống sạt lở đất bằng giải pháp gia cố “mềm” sườn đất dốc gồm: (i) gia cố mái đất dốc bằng trồng cỏ; (ii) gia cố mái đất dốc bằng trồng rừng, phủ xanh đồi trọc. Giải pháp trồng rừng giữ đất kết hợp với các giải pháp cứng là phương pháp phổ biến và bền vững tại nhiều quốc gia.

Theo đó, bộ rễ cây của các thảm thực vật đóng vai trò như "neo đất" tự nhiên giúp tăng tính liên kết của hạt đất, đồng thời làm giảm tác động xói mòn của nước mưa khi chảy tràn qua (Hình 3).

Hình 3. Gia cố mái đất dốc bằng biện pháp trồng cỏ và trồng rừng, phủ xanh đồi trọc

Giải pháp gia cố “mềm” là một giải pháp thích ứng với khả năng trơn trượt, sạt lở của đất. Đây là những giải pháp theo hướng xanh, có khả năng phù xanh đồi trọc và nhất là tạo nên sự cân bằng hệ sinh thái của thảm thực vật trong môi trường tự nhiên.

Tuy nhiên, việc lựa chọn cây trồng mới chỉ đang tập trung vào nhiệm vụ phủ xanh đồi trọc, trồng cây lấy gỗ, lấy quả chứ chưa thực sự quan tâm đến chức năng bảo vệ thảm thực vật có khả năng chống sạt lở đất, nhất là tại vùng đồi núi có địa hình và địa chất đất phức tạp, có độ dốc cao rất lớn như tại miền núi phía Bắc.  

2.2. Kinh nghiệm từ truyền thống

Tại các khu vực miền núi phía Bắc, do đặc điểm của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, với địa hình hết sức phức tạp, nên các dân tộc thiểu số khi tạo lập không gian cư trú đều rất quan tâm đến hòa đồng với môi trường cảnh quan tự nhiên.

Tùy theo văn hóa, lối sống và thói quen sinh hoạt cũng như sản xuất mà các dân tộc lựa chọn không gian cư trú trên các đỉnh, sườn núi cao; khu vực sườn núi, lưng chừng núi hay khu vực thung lũng, chân núi, ven suối.

Do đặc thù cư trú theo địa hình như vậy, nên nhằm tránh lũ ống, lũ quét, sạt lở đất và không khí ẩm thấp từ lòng đất cũng như tránh thú dữ mà các dân tộc chủ yếu lựa chọn nhà sàn truyền thống (nhà trên cột) để sinh sống. Ngôi nhà sàn truyền thống được bố trí quay mặt về hướng Nam hoặc Đông Nam để đón gió mát vào mùa hè, quay lưng về đồi, núi nơi hướng Bắc để tránh gió lạnh mùa đông. Tầng sàn áp mái bố trí không gian kho chứa lương thực, giúp mưa gió, lũ lụt vẫn bảo quản được lương thực khô ráo. 

Tại các khu vực duyên hải ven biển, những nơi thường xuyên ngập lũ cha ông ta có kinh nghiệm truyền thống là bố trí hướng đầu hồi ngôi nhà quay về hướng Đông (mặt nhà quay về hướng Nam) để tránh gió bão và triều cường, nước biển dâng.

Đồng thời ngôi nhà cũng dựng trên các cây cọc (nhà trên cọc) để chống mưa, lũ, ngập nước. Người dân vùng biển còn có kinh nghiệm sử dụng mũi thuyền nhọn, cao để rẽ và vượt sóng cao khi ra biển mùa mưa bão, đây cũng là bài học có thể áp dụng cho việc làm giảm thiểu dòng chảy (rẽ phân nhánh dòng chảy) của lũ quét và sạt lở đất trong xây dựng không gian cư trú khu vực miền núi.  

Tại các khu vực cư trú ven sườn đồi, núi hay ven chân đê sông, suối nơi thường xuyên ngập lũ hay sạt lở đất, người dân thường trồng tre thành những hàng lũy giúp ngăn nước lũ và sạt lở đất. Tre thuộc loại họ “cỏ” nên rất dễ dàng sinh trưởng trong điều kiện thổ nhưỡng và môi trường khắc nghiệt.

Tre có tuổi thọ cao, sống bình quân trên 100 năm và tốc độ sinh trưởng nhanh; có khả năng tự tái sinh; có khả năng hấp thụ khí carbon; có khả năng sử dụng như một hàng rào chắn đất tự nhiên và giữ đất; có khả năng lọc và làm chậm dòng chảy của nước giúp chống sạt lở đất hiệu quả; là loại dược liệu quý; làm vật liệu xây dựng, dệt may, giấy, chế biến thực phẩm, đồ gia dụng, làm du lịch và giúp sinh kế cho người dân [1]. 

Hình 4. So sánh giữa loại rễ cây lấy gỗ, cây ăn quả với bộ rễ cây tre [2]

Tre nhờ có bộ rễ đặc biệt là “thân rễ” và liên kết ngang theo tinh thể mạng đa chiều nên cây tre rất vững chắc và có thể đứng vững trong giông bão, có khả năng chống được lũ ống, lũ quét và sạt lở đất. Hệ thống rễ này cho phép cây tre tồn tại trong những điều kiện khắc nghiệt nhất của tự nhiên và phát triển nhanh hơn so với những loài cây thân gỗ khác.

So sánh với rễ cây lấy gỗ, cây ăn quả là loại rễ độc lập nên làm việc độc lập, thiếu liên kết; riêng rễ tre có cấu trúc tự nhiên rất đặc biệt, là loại “thân rễ” tinh thể mạng có thể liên kết đa chiều 3D, tạo nên một tấm lưới tinh thể mạng tự nhiên [2] (Hình 4). 

3. Giải pháp tổ chức không gian cư trú thích ứng với BĐKH theo hướng xanh

3.1. Giải pháp tổ chức không gian bản, làng

Đối với tổ chức không gian bản, làng không chỉ giúp thích ứng với lũ ống, lũ quét và sạt lở đất, đồng thời phải giữ gìn được bản sắc văn hóa truyền thống và duy trì, tạo lập sinh kế bền vững cho người dân. Vì vậy, theo kinh nghiệm khi lựa chọn địa điểm xây dựng không gian bản, làng và nhà ở cần chú ý đến đặc điểm hình thái địa hình, địa vật và thế đất. Đề xuất 04 giải pháp cụ thể sau: 

- Giải pháp 1: Không gian cư trú phải bố trí xa khu vực thường xuyên xảy ra sạt lở đất, nơi có phễu tụ thủy (vị trí hai bên vách núi dốc, đáy hẹp như hình phễu). Nếu xây dựng trên sườn núi đất dốc thì nên chọn sườn thoải có độ dốc dưới 30 độ và nên xây dựng bản phân tán theo dạng “tuyến” và “vành khăn” bám theo các đường đồng mức tự nhiên của sườn dốc. Hạn chế tối đa việc đào cắt chân taluy gây mất chân nêm nền đất dẫn tới sạt lở mái đất dốc. 

- Giải pháp 2: Nếu xây dựng dưới thung lũng thì chọn thế đất phải cao, rộng, bằng phẳng để tránh lũ quét và không quá gần sông, suối để tránh lũ ống. Cấu trúc bản nên bố trí dạng “điểm” kết hợp với “tuyến” theo địa hình tự nhiên. 

- Giải pháp 3: Phía trên đỉnh đồi, núi của bản, làng cần thiết trồng tre thành lũy dạng thảm nêm xanh “hình chữ V” (giống như hình mũi thuyền vượt biển và chếch với hướng lũ quét khoảng 30 - 60 độ). Lũy tre phải trồng dày, so le nhiều lớp theo cấu trúc tinh thể mạng 3D của lưới địa kỹ thuật 3 trục đang được sử dụng trong việc tạo màng chống trơn trượt, sạt lở mái đất hiện nay.

Kết hợp với giải pháp trồng tre bao phủ và ngăn lũ cần đào hệ thống mương hào cắt dòng phân thủy theo nhiều bậc (vòng trên, giữa và cuối của vòng nêm lũy tre) giúp thu gom nước mưa chảy tràn từ đỉnh xuống, dẫn hướng dòng chảy ra xa khu vực bản, ngăn nước đổ dồn trực tiếp (hệ thống mương cũng đào theo hình nêm theo hình lũy tre) (Hình 5). 

- Giải pháp 4: Kết hợp với việc sử dụng hệ thống đập Sapo tại các dòng suối ven bản để giảm sức mạnh của lũ ống. 

Với các giải pháp tích hợp này, sẽ giúp cho không gian cư trú giảm thiểu được ảnh hưởng của lũ ống, lũ quét và sạt lở đất, ngoài ra trồng tre còn giúp nhiều như giá trị phủ xanh đồi trọc, tạo lập tín chỉ carbon, giúp sinh kế cho người dân như làm du lịch, sản xuất dược liệu, đồ dùng sinh hoạt, vật liệu xây dựng và thực phẩm. Cần lưu ý nếu sử dụng kết hợp thêm bờ kè hoặc tường chắn đất nên nên sử dụng tường rọ đá, tường xếp đá hộc để ngăn đất nhưng vẫn cho dòng chảy đi thẩm thấu qua.  

Hình 5. Giải pháp tổ chức không gian bản, làng thích ứng với BĐKH

3.2. Giải pháp tổ chức không gian khuôn viên

Đối với tổ chức khuôn viên các ngôi nhà trong bản, đề xuất 02 giải pháp sau: 

- Giải pháp 1: Kế thừa kinh nghiệm truyền thống trồng vườn cây ăn quả, cây lấy gỗ xung quanh khuôn viên ngôi nhà, giúp vừa làm kinh tế vườn vừa giảm thiểu sức gió, bão và thích ứng với biến đổi khí hậu, sạt lở đất. Tại hàng rào khuôn viên hướng Bắc và Tây Bắc cần trồng tre tối thiểu từ 3 hàng trở lên so le với nhau tạo thành tường lũy để vừa giúp bảo vệ cho ngôi nhà giảm thiểu lũ ống, lũ quét và sạt lở đất; vừa giúp tạo sinh kế và nguồn thực phẩm cho gia đình.

- Giải pháp 2: Phía ngoài lũy tre, sử dụng bờ kè mềm sinh thái (kết hợp với hàng rào khuôn viên) như kè rọ đá hoặc bờ kè xếp đá tự nhiên kết hợp trồng cây xanh có rễ sâu, vừa tạo độ thấm thoát nước tốt, vừa tạo cảnh quan hàng rào xanh.

3.3. Giải pháp tổ chức kiến trúc nhà ở

Đối với tổ chức kiến trúc nhà ở, đề xuất 03 giải pháp sau: 

- Giải pháp 1: Khai thác kinh nghiệm tri thức bản địa trong việc xây dựng nhà sàn truyền thống (nhà trên cột). Đây là giải pháp thích ứng rất hiệu quả đối với BĐKH vùng miền núi phía Bắc. Kết cấu móng cột là móng độc lập cắm sâu vào tầng đất cứng để neo giữ công trình đồng thời phép nước ngầm len lỏi chảy qua. Gầm sàn nâng cao cho phép các dòng lũ quét qua chảy gầm sàn, giảm thiểu áp lực do tường chắn (lúc bình thường, gầm sàn sử dụng chức năng linh hoạt như tiếp khách, sinh hoạt chung, dịch vụ, sản xuất, thương mại và hoạt động sinh kế hoặc chứa nông cụ).

- Giải pháp 2: Bố trí đầu hồi ngôi nhà theo hướng song song và chếch với sườn đất dốc khoảng 30 - 60 độ về hướng Đông để giảm thiểu ảnh hưởng của lũ quét, lũ ống, sạt lở đất trực tiếp vào mặt chính ngôi nhà. Mặt nhà quay về hướng Nam hoặc Đông Nam đón gió mát vào mùa hè, lưng quay về hướng Bắc (hướng đồi, núi) để ngăn gió lạnh vào mùa đông.

- Giải pháp 3: Kế thừa không gian tầng áp mái trong nhà ở dân gian truyền thống các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc được khai thác nâng cao tầng mái thành không gian trú ẩn cho người và gia cầm khi xảy ra mưa gió, lũ lụt, lũ quét. 

4. Kết luận 

Bề mặt thảm thực vật tự nhiên của đồi, núi bị hư hại làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, dẫn đến BĐKH cũng như lũ ống, lũ quét và sạt lở đất. Việc chống trả lại tự nhiên là một việc làm rất khó khăn và tốn kém, trong khi đó lại gây nên ảnh hưởng tiêu cực cho hệ sinh thái môi trường tự nhiên. Vì vậy, nghiên cứu các giải pháp tổ chức không gian cư trú gồm không gian bản, không gian khuôn viên và kiến trúc nhà ở các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc thích ứng với BĐKH, sạt lở đất theo hướng xanh là cần thiết nhằm giúp người dân bám bản, bám đất đai sản xuất và chung sống hài hòa với BĐKH, sạt lở đất. 

Nghiên cứu cũng phân tích bài học kinh nghiệm từ dân gian truyền thống trong tổ chức không gian cư trú thích ứng với BĐKH, sạt lở đất như: Khu vực miền núi phía Bắc bố trí xây dựng nhà sàn truyền thống (nhà trên cột) và tầng sàn áp mái bố trí không gian kho bảo quản lương thực khô ráo khi mưa gió, lũ lụt; xây nhà theo đường đồng mức dạng “tuyến” và hình “vành khăn” theo tự nhiên giúp tránh đường tụ thủy và phân tán để giảm thiểu tác hại của lũ quét.

Khu vực ven biển xây dựng nhà trên cọc và bố trí hướng đầu hồi ngôi nhà quay về hướng Đông giúp tránh gió bão và triều cường, nước biển dâng; sử dụng mũi thuyền nhọn, cao để rẽ và vượt sóng cao khi ra biển mùa mưa bão; Khu vực ven sườn đồi, núi hay ven chân đê sông, suối trồng tre thành những hàng lũy giúp ngăn nước lũ và sạt lở đất. 

Nghiên cứu cũng đã đề xuất được 03 nhóm giải pháp tổ chức không gian: bản, làng; khuôn viên; kiến trúc nhà ở thích ứng với BĐKH, sạt lở đất. Trong đó tập trung đề xuất biện pháp tích hợp trồng tre thành thảm lũy nêm xanh hình chữ V kết hợp với hệ thống mương hào cắt dòng phân thủy và xây kè mềm sinh thái thích ứng với BĐKH, lũ ống, lũ quét và sạt lở đất theo hướng xanh. 

Nhằm có thể đưa kết quả nghiên cứu vào áp dụng trong thực tiễn, rất cần sự quan tâm của chính quyền địa phương trong việc quy hoạch phát triển, cải tạo không gian cư trú nông thôn cũng như công tác quản lý và hướng dẫn cộng đồng dân cư cùng tham gia vào tổ chức không gian cư trú thích ứng với BĐKH, sạt lở đất.

Việc trồng tre chống lũ ống, lũ quét và sạt lở đất được giao khoán như giao đất trồng rừng cho các hộ gia đình với sự hỗ trợ của chính quyền về cây giống, kỹ thuật trồng và nguồn vốn vay ưu đãi. Mặt khác, cũng cần có hướng dẫn về cách thức khai thác và thu hoạch một cách bền vững, giúp tăng cường hoạt động sinh kế làm tăng mức thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng miền núi phía Bắc. 

* Tiêu đề do Tòa soạn đặt -Mời xem file PDF tại đây

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Báo Khuyến Nông. Cây tre - Đặc điểm, phân loại và kỹ thuật trồng tre, 2020. Internet: https://baokhuyennong.com/cay-tre  (truy cập: tháng 6/2026).
[2] Chế Đình Lý. Vai trò cây xanh trong việc hạn chế sạt lở đất ở các đô thị đồi núi, thích ứng với biến đổi khí hậu. Môi trường Xây dựng Việt Nam, tháng 11/2023. Internet: https://moitruongxaydungvn.vn/vai-tro-cay-xanh-trong-viec-han-che-sat-lo-dat-o-cac-do-thi-doi-nui-thich-ung-voi-bien-doi-khi-hau (truy cập: tháng 6/2026).
[3] Nguyễn Đình Thi & Nguyễn Hoài Thu (đồng chủ biên). Tổ chức không gian kiến trúc nhà ở nông thôn theo hướng phát triển bền vững, Hà Nội, NXB. Xây dựng, 2026.
[4] DM Cruden and DJ Varnes. Landslides: Investigation and Mitigation, National Academy Press Washington, D. C. 1996. 
[5] O Tzalalihin. How to Prevent a Landslide, wikiHow, 2023. Internet: https://www.wikihow.com/Prevent-a-Landslide (accessed: 6/2026).
[6] E Fernandez. NoCot guv pushes for bamboo planting to curb floods, landslides. Philippine News Agency, Mar. 9, 2020. Internet: https://www.pna.gov.ph/articles/1095932 (accessed: 6/2026).
[7] K Forbes and J Broadhead. Forests and Landslides: The Role of Trees and Forests in the Prevention of Landslides and Rehabilitation of Landslide-Affected Areas in Asia, 2nd ed, Bangkok, Thailand: Food and Agriculture Organization of the United Nations, Regional Office for Asia and the Pacific, 2013.
[8] KTN News Kenya. Using Bamboo grass to control floods, YouTube, Feb. 6, 2016. Internet: https://www.youtube.com/watch?v=X5p17MYrOO8 (accessed: 6/2026).
[9] R Purwaningsih, J Sartohadi, and MA Setiawan. Trees and Crops Arrangement in the Agroforestry System Based on Slope Units to Control Landslide Reactivation on Volcanic Foot Slopes in Java, Indonesia. Land, vol. 9, no. 9, Art. no. 327, Sep. 2020, doi: 10.3390/land9090327.
[10] S Mbugua. Investing in bamboo to curb floods in Kenya. DW, Jul. 29, 2018. Internet: https://www.dw.com/en/investing-in-bamboo-to-curb-floods-in-kenya/a-44833210 (accessed: 6/2026).
[11] Thi, N. Đ., Lan, V. T. H., Phong, N. L., Tho, P. T. H., & Thu, N. H. Sustainable development of Tay ethnic village spaces in Tuyen Quang Province through the preservation and utilization of traditional architectural values. International Journal of Sustainable Construction Engineering and Technology, vol. 16, no. 2, pp. 145-163, 2025, doi: 10.30880/ijscet.2025.
[12] Thi, N. Đ., Bao, T. Q., Long, D. Viet., Thuan. L. T., Hiep, N. H., Hang, N. T., Lan, V. T. H. Sustainable Development of Traditional Settlement Space of Thai People in Northwest Vietnam: A Case Study of Vang Pheo Village. Civil Engineering and Architecture, vol. 14, no. 3, pp. 1831-1855, 2026, doi: 10.13189/cea.2026.140330.
[13] Lê Duy Cường. Các biện pháp gia cố mái dốc, 2022. Internet: https://minhduccorp.com.vn/cac-bien-phap-gia-co-mai-doc (truy cập: tháng 6/2026).
[14] J Barton. How Deep Does Root Barrier for Bamboo Need to Be?. Root Barrier Store, Aug. 24, 2023. Internet: https://rootbarrier.store/blogs/latest-news/how-deep-does-root-barrier-for-bamboo-need-to-be (accessed: 6/2026)
[15] Nguyễn Thủy. Những bụi tre đáng giá ngàn tỷ. Báo Nông nghiệp Việt Nam, tháng 07/2022. Internet: https://nongnghiep.vn/nhung-bo-tre-dang-gia-ngan-ty-d346107.html (truy cập: tháng 6/2026).

Bình luận
Công ty IDECO Công ty Cổ phần cảng Nghệ Tĩnh Trung tâm dạy nghề tư thục Tùng Linh Công ty CP Hoa tiêu hàng hải Công ty portcoast Bến xe tàu Cà Mau Công ty Xe đạp Thống Nhất
  • Dự án Monrei Saigon Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam