Với 428/445 đại biểu Quốc hội có mặt biểu quyết tán thành (90,49%), Quốc hội đã thông qua Luật Quy hoạch (sửa đổi), sáng 10/12.
Giảm từ 78 xuống còn 49 quy hoạch ngành
Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Quy hoạch (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết, dự thảo Luật tập trung xử lý 5 nhóm vấn đề lớn, bảo đảm yêu cầu đổi mới toàn diện công tác quy hoạch, gồm: (i) Hoàn thiện hệ thống quy hoạch và mối quan hệ giữa các loại quy hoạch; (ii) tăng cường phân cấp, phân quyền; (iii) đơn giản hóa quy trình, thủ tục lập quy hoạch; (iv) hoàn thiện nội dung quy hoạch; (v) tháo gỡ khó khăn trong đánh giá sự phù hợp của dự án đầu tư với quy hoạch.
Ngoài các nội dung chính nói trên, dự thảo Luật còn hoàn thiện quy định về thời kỳ quy hoạch; thời hạn có hiệu lực của quy hoạch; tầm nhìn quy hoạch; công bố, cung cấp dữ liệu quy hoạch; tổ chức, vận hành Hệ thống thông tin và Cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch; yêu cầu về bản đồ, sơ đồ quy hoạch và chi phí cho tư vấn nước ngoài.
Trên cơ sở rà soát toàn diện, Chính phủ đã tái cấu trúc Danh mục quy hoạch theo hướng tinh gọn hệ thống quy hoạch ngành và quy hoạch chi tiết ngành, nhằm xóa bỏ trùng lặp về nội dung giữa các quy hoạch, loại bỏ các quy hoạch không cần thiết, không còn phù hợp, hợp nhất quy hoạch có nội dung liên quan chặt chẽ bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm nguồn lực, tránh lãng phí.
Theo đó, số lượng quy hoạch thuộc Danh mục quy hoạch ngành quốc gia giảm mạnh, từ 78 xuống còn 49 quy hoạch (giảm 37%). Các điều chỉnh đều dựa trên đề xuất chuyên môn của các Bộ, ngành và đã được thuyết minh đầy đủ trong hồ sơ luật.
Xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch có nguyên tắc rõ ràng
Đáng chú ý, dự thảo Luật quy định cụ thể việc xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch dựa trên mối quan hệ giữa các cấp quy hoạch. Mặc dù Luật không đặt ra “tính thứ bậc” cứng nhắc, nhưng quy định rõ cơ chế xử lý để hạn chế xung đột trong triển khai.
Theo đó, các quy hoạch do cùng một Bộ lập, Bộ trưởng quyết định quy hoạch phải điều chỉnh và quy hoạch được thực hiện. Các quy hoạch do các Bộ khác nhau lập, trường hợp không thống nhất, Thủ tướng Chính phủ quyết định quy hoạch phải điều chỉnh.
Quy hoạch thuộc thẩm quyền tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định khi có xung đột liên quan. Xung đột giữa quy hoạch chi tiết ngành và quy hoạch tỉnh, nếu không thống nhất, UBND cấp tỉnh báo cáo Thủ tướng quyết định.
Việc thiết kế các cơ chế nêu trên nhằm đảm bảo tính linh hoạt, đồng thời xác định rõ trách nhiệm giải trình của cơ quan liên quan.
Đặc biệt, giải trình trước ý kiến băn khoăn về sự cần thiết của quy hoạch vùng, Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng nêu rõ, quy hoạch vùng đóng vai trò định hướng phát triển liên kết giữa các tỉnh trong vùng; giúp giải quyết các vấn đề vượt ranh giới hành chính như hạ tầng kết nối, tài nguyên chung; và thực hiện chủ trương tại Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm và các Nghị quyết phát triển vùng của Đảng
Nếu bỏ quy hoạch vùng, sẽ thiếu công cụ điều phối không gian phát triển trong vùng và liên vùng; khó xử lý xung đột lợi ích giữa các địa phương; tiềm ẩn rủi ro phát triển manh mún, thiếu bền vững trong khai thác hạ tầng và tài nguyên.
Do vậy, việc duy trì lập và phê duyệt quy hoạch vùng được khẳng định là cần thiết, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy phát triển hài hòa và liên kết vùng.

Luật Quy hoạch (sửa đổi) được Chính phủ báo cáo hoàn thiện theo hướng cắt giảm 37% quy hoạch ngành để khắc phục trùng lặp nội dung, thiết lập cơ chế xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch và tăng thẩm quyền cho địa phương phê duyệt quy hoạch. 

