Đặt ra tiêu chí xác định quy hoạch ưu tiên
Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch. Điểm mới có tính nền tảng của dự thảo Nghị định là việc quy định rõ các căn cứ để xác định quy hoạch được ưu tiên thực hiện khi xảy ra mâu thuẫn.
Theo khoản 1 Điều 4 dự thảo Nghị định, trong các trường hợp quy định tại khoản 3, điểm b khoản 5 và điểm a khoản 7 Điều 6 Luật Quy hoạch, việc xác định quy hoạch được ưu tiên thực hiện được xem xét dựa trên bốn nhóm tiêu chí chính: (i) quy hoạch liên quan đến bảo đảm quốc phòng, an ninh; (ii) quy hoạch phục vụ triển khai dự án đầu tư công đặc biệt, dự án đầu tư công khẩn cấp; (iii) quy hoạch có mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, bảo tồn di sản, tiết kiệm nguồn lực và có hiệu quả đầu tư cao; và (iv) quy hoạch về kết cấu hạ tầng có phạm vi ảnh hưởng rộng, kết nối nhiều địa phương. Quy định này thể hiện nguyên tắc xử lý mâu thuẫn theo hướng không máy móc theo cấp quy hoạch, mà dựa vào mức độ đáp ứng các tiêu chí cụ thể.
Theo khoản 2 Điều 4, trong trường hợp có mâu thuẫn, quy hoạch liên quan đến quốc phòng, an ninh hoặc quy hoạch đáp ứng nhiều hơn các căn cứ tại khoản 1 Điều 4 sẽ được xem xét là quy hoạch được thực hiện; các quy hoạch còn lại phải điều chỉnh theo quy hoạch được thực hiện. Cách tiếp cận này thể hiện rõ tư duy ưu tiên mục tiêu công, lợi ích tổng thể, thay vì chỉ căn cứ vào thẩm quyền ban hành.
Quy định cụ thể trình tự xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch
Dự thảo Nghị định đồng thời quy định chi tiết trình tự xử lý mâu thuẫn tại Điều 5. Theo đó, các tình huống mâu thuẫn khác nhau được xử lý theo các quy trình riêng, gắn với từng cặp quan hệ quy hoạch.
Đối với trường hợp quy hoạch vùng mâu thuẫn với quy hoạch ngành, cơ quan, tổ chức phát hiện mâu thuẫn có trách nhiệm gửi văn bản nêu rõ nội dung mâu thuẫn đến Bộ Tài chính và cơ quan tổ chức lập quy hoạch ngành (điểm a khoản 1 Điều 5). Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với cơ quan tổ chức lập quy hoạch ngành, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được văn bản, trong đó phải xác định rõ nội dung mâu thuẫn, kiến nghị quy hoạch được thực hiện và quy hoạch phải điều chỉnh, căn cứ theo các nguyên tắc tại Điều 4 (điểm b khoản 1 Điều 5). Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ quyết định quy hoạch phải điều chỉnh và giao nhiệm vụ lập điều chỉnh quy hoạch theo quy định (điểm c khoản 1 Điều 5).
Đối với trường hợp mâu thuẫn giữa các quy hoạch theo điểm b khoản 5 Điều 6 Luật Quy hoạch, dự thảo Nghị định ưu tiên cơ chế tự thống nhất giữa các cơ quan tổ chức lập quy hoạch trong thời hạn 20 ngày kể từ khi phát hiện mâu thuẫn (điểm b khoản 2 Điều 5). Chỉ trong trường hợp không đạt được sự thống nhất, cơ quan tổ chức lập quy hoạch có liên quan đến dự án đang triển khai mới báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định (điểm b khoản 2 Điều 5). Cách quy định này nhằm khuyến khích phối hợp liên ngành, đồng thời vẫn giữ vai trò điều phối cuối cùng của Chính phủ.
Đối với trường hợp quy hoạch chi tiết ngành mâu thuẫn với quy hoạch tỉnh theo điểm a khoản 7 Điều 6 Luật Quy hoạch, dự thảo Nghị định quy định cơ quan tổ chức lập quy hoạch chi tiết ngành chủ trì phối hợp với cơ quan tổ chức lập quy hoạch tỉnh để thống nhất phương án xử lý trong thời hạn 20 ngày (điểm b khoản 3 Điều 5). Trường hợp không thống nhất được, cơ quan tổ chức lập quy hoạch chi tiết ngành báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định (điểm c khoản 3 Điều 5).
Quyết định cuối cùng là Thủ tướng Chính phủ
Đáng chú ý, xuyên suốt nội dung Điều 5 dự thảo Nghị định xác lập rõ vai trò quyết định cuối cùng của Thủ tướng Chính phủ trong các trường hợp mâu thuẫn quy hoạch không thể tự xử lý ở cấp Bộ, ngành hoặc địa phương, nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống quy hoạch và trách nhiệm giải trình ở cấp cao nhất của hành pháp.
Đồng thời, dự thảo cũng quy định rõ trách nhiệm của Bộ Tài chính trong việc tổng hợp, báo cáo và thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch được thực hiện và quy hoạch phải điều chỉnh (điểm d khoản 1 Điều 5).
Dự thảo Nghị định cũng làm rõ lại tính chất của quy hoạch, qua việc quy định chi tiết nội dung quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh tại các Điều 21 đến 27. Các điều khoản này không còn yêu cầu lập danh mục dự án dự kiến ưu tiên đầu tư, qua đó khẳng định quy hoạch chỉ mang tính định hướng phát triển, không thay thế quyết định đầu tư cụ thể. Cách tiếp cận này góp phần giảm nguy cơ mâu thuẫn phát sinh từ việc “đóng cứng” dự án trong quy hoạch.
Từ góc độ chính sách có thể thấy, các quy định về xử lý mâu thuẫn quy hoạch trong dự thảo Nghị định là bước hoàn thiện cần thiết để đưa Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15 đi vào thực tiễn. Việc xác định rõ tiêu chí ưu tiên, trình tự xử lý và thẩm quyền quyết định không chỉ giúp tháo gỡ các vướng mắc hiện hữu, mà còn góp phần nâng kỷ luật lập và thực hiện quy hoạch, hạn chế tình trạng mỗi quy hoạch “một logic”, thiếu kết nối.
Việc dự thảo Nghị định đặt ra cơ chế rõ ràng, minh bạch là điều kiện cần để hệ thống quy hoạch vận hành nhất quán hơn trong thời gian tới.

Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch lần đầu tiên thiết lập một khuôn khổ đầy đủ để xử lý mâu thuẫn giữa các quy hoạch, gồm: nguyên tắc xác định thứ bậc, tiêu chí ưu tiên, trình tự và thẩm quyền quyết định cuối cùng... 

