Sáng 11/8, tiếp tục Chương trình Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Phát triển đô thị. Các đại biểu Quốc hội cơ bản nhất trí về sự cần thiết ban hành Luật, các ý kiến tập trung vào cơ chế phát triển, phân quyền và khai thác nguồn lực đô thị; quy hoạch, giao thông, môi trường và khả năng chống chịu của đô thị.
Làm rõ cơ chế phân quyền, khai thác nguồn lực đô thị
Góp ý về các cơ chế, chính sách thí điểm quy mô lớn tại Điều 8, đại biểu Nguyễn Thanh Cầm - Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp đề nghị bổ sung yêu cầu đánh giá tác động về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bảo đảm bình đẳng giới trước khi Hội đồng nhân dân thành phố quyết định đối với những trường hợp thí điểm có quy mô lớn, phạm vi ảnh hưởng rộng.
Đối với việc xã hội hóa hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ hỗ trợ giải quyết thủ tục hành chính tại Điều 9, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc lấy sự hài lòng của người dân làm trung tâm; tránh áp dụng hình thức xã hội hóa trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đặc biệt, không thực hiện xã hội hóa nếu việc này làm tăng khó khăn hoặc hạn chế cơ hội tiếp cận của các nhóm đối tượng được bảo trợ xã hội.
Đại biểu cũng đề nghị quá trình chỉnh trang đô thị hoặc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp phải đi kèm đánh giá tác động xã hội. Luật cần quy định rõ các giải pháp đào tạo nghề, tạo việc làm và bảo đảm thu nhập cho người dân bị ảnh hưởng, nhất là lao động nữ và người cao tuổi.
Quan tâm đến cơ chế chuyển nhượng chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch tại các khu vực phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), đại biểu Trần Thế Anh - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình cho rằng, đây là cơ chế mới nhằm điều tiết không gian và khai thác hiệu quả giá trị đất đai gắn với giao thông công cộng. Tuy nhiên, để áp dụng thống nhất, dự thảo cần làm rõ nội hàm của việc “chuyển nhượng chỉ tiêu”, không nên hiểu đơn thuần là một cách gọi khác của điều chỉnh quy hoạch.
Đại biểu đề xuất bổ sung quy định theo hướng chuyển nhượng chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch trong khu vực TOD là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định chuyển giao một phần hoặc toàn bộ chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch giữa các dự án, công trình trong cùng khu vực TOD, trên cơ sở quy hoạch khu vực đã được phê duyệt.
Theo đại biểu, việc xác định rõ đây là quyết định hành chính của Nhà nước sẽ giúp phân biệt với các giao dịch dân sự tự do giữa các chủ thể.
Đề cập giá trị pháp lý và quy trình thực hiện sau khi có quyết định chuyển nhượng, đại biểu Trần Thế Anh cho rằng việc thay đổi chỉ tiêu của dự án, công trình chuyển đi và dự án, công trình nhận chuyển nhượng có thể tác động đến quy mô xây dựng, khả năng đáp ứng của hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và yêu cầu quản lý không gian khu vực TOD. Vì vậy, Luật cần quy định rõ phương thức cập nhật các chỉ tiêu mới vào hồ sơ, cơ sở dữ liệu quy hoạch để tránh tình trạng mỗi địa phương thực hiện một cách khác nhau.
Quyết định chuyển nhượng chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch cần được xác định là căn cứ để cập nhật chỉ tiêu của dự án, công trình có liên quan vào hồ sơ, cơ sở dữ liệu quy hoạch và hồ sơ quản lý đầu tư xây dựng. Trường hợp việc chuyển nhượng làm thay đổi những nội dung cốt lõi thì phải thực hiện điều chỉnh quy hoạch theo quy định hiện hành.
Đại biểu nhấn mạnh, các quy định cần bảo đảm minh bạch, phân định rõ giữa “chuyển nhượng chỉ tiêu”, “cập nhật chỉ tiêu” và “điều chỉnh quy hoạch”. Khi đưa một cơ chế từ thí điểm vào Luật, điều quan trọng là phải thiết kế để cơ chế đó có thể vận hành ngay và hiệu quả trong thực tiễn.
Cho ý kiến về phát triển kinh tế biển, đại biểu Tạ Đình Thi - Đoàn ĐBQH TP Hà Nội đánh giá, dự thảo Luật đã có các điều khoản cụ thể nhằm thể chế hóa những chủ trương lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 20-NQ/TW của Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và Nghị quyết số 139/2024/QH15 của Quốc hội về Quy hoạch không gian biển quốc gia.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng “hai con số” và biến khát vọng biển thành hiện thực, đại biểu cho rằng các chính sách về kinh tế biển trong Luật cần thực sự đột phá, vượt trội và đủ mạnh.
Trước hết, cần xác lập rõ đô thị đặc biệt là “đầu tàu” trong phát triển kinh tế biển. Đại biểu đề nghị rà soát, bổ sung tại Mục 4 Chương III, nhất là các Điều 52 và 53, theo hướng giao thẩm quyền, cơ chế đặc thù để các đô thị đặc biệt tiên phong xây dựng những mô hình mới như “đô thị biển thông minh”, “trung tâm kinh tế biển mạnh”, làm hạt nhân cho tăng trưởng vùng và quốc gia.
Các ưu đãi về tài chính và đầu tư cũng phải thực sự vượt trội để thu hút nhà đầu tư chiến lược vào những lĩnh vực biển mới. Trên cơ sở các quy định về ưu đãi thuế, thời hạn dự án tại Điều 47, đại biểu đề nghị nghiên cứu, bổ sung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, nhất là đối với công nghệ năng lượng tái tạo, công nghệ khai thác biển sâu và các mô hình kinh tế biển mới như hydro xanh, công nghiệp đóng tàu hiện đại, logistics biển.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế phát triển đồng bộ hạ tầng biển và không gian phát triển mới. Dự thảo cần quy định cụ thể hơn về bảo đảm kết nối hạ tầng chiến lược giữa đô thị, cảng biển và các khu vực liên quan, gắn với tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học, làm chủ công nghệ biển; đồng thời kết hợp hài hòa giữa bảo vệ chủ quyền quốc gia, phát triển kinh tế biển xanh và bảo vệ hệ sinh thái cho các thế hệ tương lai.
Đồng bộ quy hoạch, giao thông và bảo vệ môi trường
Nhấn mạnh “để thành phố phát triển thì hệ thống giao thông cũng cần phát triển”, đại biểu Nguyễn Văn Cảnh - Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai cho rằng, các thành phố hiện còn gặp nhiều bài toán khó về ùn tắc, tai nạn giao thông và nơi đỗ xe. Để giải quyết các vấn đề giao thông đô thị, cần áp dụng đồng thời nhiều phương pháp, nguyên tắc mới và mô hình tổ chức giao thông hiệu quả từ các nước tiên tiến.
Đại biểu đề nghị bổ sung nội dung cho phép thí điểm các phương pháp, nguyên tắc, mô hình tổ chức giao thông nhằm giải quyết các vấn đề giao thông đô thị; áp dụng trực tiếp các quy định trong Công ước Giao thông đường bộ năm 1968 mà Việt Nam là thành viên.
Đối với quy định về thẩm quyền của Hội đồng nhân dân thành phố trong việc hạn chế phương tiện giao thông cá nhân vào khu vực trung tâm, đại biểu đề nghị bổ sung điều kiện “sau khi đã tổ chức thực hiện các giải pháp để tối ưu khả năng đáp ứng của hạ tầng giao thông hiện hữu”.
Theo đại biểu, thực tế thời gian qua cho thấy khi thành phố áp dụng một số giải pháp như tổ chức lại giao thông tại các ngã tư, vòng xuyến, tình trạng ùn tắc tại các điểm này được cải thiện đáng kể. Vì vậy, dự thảo cần quy định theo hướng hạn chế phương tiện giao thông cá nhân vào khu vực trung tâm để giảm ùn tắc, giảm phát thải và áp dụng phí giảm ùn tắc sau khi đã triển khai các giải pháp tối ưu hóa khả năng đáp ứng của hạ tầng hiện hữu.
Đại biểu Nguyễn Văn Cảnh cũng đề xuất thành phố có thể thí điểm bố trí nơi dừng xe máy để gọi điện thoại, nơi người giao hàng dừng để giao, nhận hàng dọc các tuyến đường. Giải pháp này sẽ góp phần giảm va chạm do người điều khiển phương tiện vừa lái xe vừa sử dụng điện thoại, cũng như hạn chế tình trạng người giao hàng lấn chiếm lòng đường, gây ảnh hưởng đến giao thông.
Tán thành các quy định về phát triển đô thị theo mô hình TOD gắn với hệ thống đường sắt đô thị, đại biểu cho rằng đây là hướng đi tất yếu để phát triển đô thị hiện đại, bền vững và khai thác hiệu quả giá trị gia tăng từ đất.
Liên quan đến quy hoạch hạ tầng đô thị, đại biểu Lê Thị Hoài Chung - Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An, đề nghị dự thảo không chỉ tiếp cận y tế như một nhóm dịch vụ an sinh mà cần xác định y tế là một cấu phần thiết yếu của hạ tầng đô thị, là điều kiện quan trọng để bảo đảm chất lượng sống của người dân.
Quy hoạch đô thị cần bảo đảm người dân được tiếp cận công bằng, thuận tiện, kịp thời và có chất lượng đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; đồng thời tăng cường năng lực y tế dự phòng, cấp cứu ngoại viện, phòng, chống dịch bệnh, ứng phó thảm họa và các tình huống y tế khẩn cấp.
Tại điểm a khoản 2 Điều 10 về quy hoạch thành phố, đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu quy hoạch và phân bố mạng lưới cơ sở y tế phù hợp với quy mô, mật độ và sự phân bố dân cư, tốc độ đô thị hóa, đặc điểm địa bàn và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.
Đặc biệt, cần quy hoạch đồng bộ mạng lưới cấp cứu ngoại viện, các điểm cấp cứu, phương tiện vận chuyển cấp cứu và hệ thống điều phối cấp cứu thông minh, gắn với quy hoạch giao thông đô thị. Đại biểu đề nghị nghiên cứu xây dựng một đầu số cấp cứu ngắn, dễ nhớ; khi người dân gọi, hệ thống có thể xác định vị trí, lựa chọn điểm cấp cứu và phương tiện gần nhất để điều phối theo thời gian thực.
Đối với những nội dung liên quan trực tiếp đến mạng lưới y tế, đại biểu đề nghị bổ sung Bộ Y tế vào cơ chế tham gia, cho ý kiến chuyên môn trong quá trình lập và điều chỉnh quy hoạch, bảo đảm sự thống nhất giữa quy hoạch đô thị và quy hoạch ngành y tế.
Đại biểu cũng đề nghị bổ sung nguyên tắc phát triển đô thị thích ứng với già hóa dân số, bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và năng lực ứng phó với các tình huống y tế khẩn cấp, dịch bệnh, thảm họa. Đô thị tương lai phải thân thiện với người cao tuổi, người khuyết tật và các nhóm dễ bị tổn thương; bảo đảm giao thông thuận tiện, không gian công cộng an toàn, nhà ở phù hợp và khả năng tiếp cận cơ sở y tế, dịch vụ xã hội.
Về liên kết phát triển vùng và ứng phó với biến đổi khí hậu tại các Điều 39, 40 và 41, đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi - Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long, nhấn mạnh đây là yêu cầu cấp thiết, nhất là đối với những đô thị lớn có sức lan tỏa.
Từ thực tiễn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, sạt lở và xâm nhập mặn, đại biểu đề nghị dự thảo Luật bổ sung, làm rõ cơ chế chia sẻ nguồn lực, lợi ích và trách nhiệm chung giữa đô thị đặc biệt với các địa phương lân cận; đồng thời gắn kết chặt chẽ với các chương trình phát triển bền vững của vùng.
Đại biểu Nguyễn Thanh Cầm đề nghị đẩy mạnh lồng ghép giới trong quy hoạch, thiết kế đô thị và hoạch định chính sách. Nội dung này cũng cần được áp dụng trong các chiến lược giảm thiểu rủi ro thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm đáp ứng nhu cầu riêng biệt của phụ nữ và trẻ em gái, phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, dự thảo Luật được thiết kế là một đạo luật khung về phân quyền, chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, đồng thời gắn việc trao quyền với cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Trong lĩnh vực quy hoạch, việc lập, điều chỉnh quy hoạch tổng thể thành phố và các quy hoạch không gian đặc thù, bao gồm không gian ngầm, không gian tầm thấp và tầm cao, bắt buộc phải lấy ý kiến và có sự thống nhất bằng văn bản của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Với các dự án chậm triển khai tại Điều 33, chính sách đặc biệt chỉ được áp dụng khi đã có kết luận thanh tra hoặc bản án có hiệu lực pháp luật. Dự thảo nghiêm cấm việc lợi dụng cơ chế đặc thù để hợp pháp hóa những sai phạm do tham nhũng, trục lợi. Cùng với kiểm soát trong quá trình ban hành và thực hiện chính sách, dự thảo thiết lập cơ chế hậu kiểm thông qua hoạt động giám sát từ xa, giám sát định kỳ của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Theo Bộ trưởng, việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm phải gắn với trách nhiệm giải trình cá nhân của người đứng đầu. Cơ chế kiểm soát không chỉ được thể hiện tại chương về giám sát, thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm giải trình mà phải xuyên suốt từng cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội.

Thảo luận về dự án Luật Phát triển đô thị, các đại biểu Quốc hội đề nghị hoàn thiện cơ chế phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai; đồng thời phát triển đồng bộ quy hoạch, giao thông, hạ tầng và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. 

