Tại Hội thảo Nhà ở xã hội phát thải các-bon thấp, ngày 28/8, tại TP Bắc Ninh, TS Nguyễn Hồng Hải - Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng (IBST), Bộ Xây dựng cho rằng, NƠXH phát thải các-bon thấp không bắt đầu từ việc “cộng thêm” công nghệ xanh, mà từ thiết kế đúng, chuẩn hóa đúng và kiểm chứng đúng. Khung kỹ thuật cho loại hình nhà ở này cần đồng thời đáp ứng 4 yêu cầu: (I) an toàn theo quy chuẩn bắt buộc; (II) bảo đảm không gian ở, sức khỏe và chất lượng không khí trong nhà; (III) duy trì chi phí đầu tư hợp lý, chi phí vận hành thấp; (IV) giảm phát thải từ năng lượng, vật liệu và quá trình vận hành công trình.
Đã có nền tảng quy chuẩn, tiêu chuẩn
TS Nguyễn Hồng Hải cho biết, hệ thống quy chuẩn hiện hành đã điều chỉnh nhiều nội dung liên quan đến quy hoạch, thiết kế, thi công và vận hành NƠXH. Trong đó, nhóm quy chuẩn về không gian và hạ tầng gồm: QCVN 01:2021/BXD về quy hoạch xây dựng; QCVN 07:2023/BXD về hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật; QCVN 10:2024/BXD về công trình bảo đảm tiếp cận sử dụng. Các quy chuẩn này đặt ra yêu cầu về mật độ xây dựng, giao thông, cấp thoát nước, hạ tầng kỹ thuật và khả năng tiếp cận công trình.
Nhóm quy chuẩn về công trình và an toàn gồm: QCVN 03:2022/BXD về phân cấp công trình phục vụ thiết kế xây dựng; QCVN 04:2021/BXD về nhà chung cư; QCVN 06:2022/BXD và Sửa đổi 1:2023 về an toàn cháy cho nhà và công trình; QCVN 12:2014/BXD về hệ thống điện của nhà ở và nhà công cộng; QCVN 18:2021/BXD về an toàn trong thi công xây dựng.
Đối với năng lượng và vật liệu, QCVN 04-3:2026/BXD quy định về công trình sử dụng năng lượng hiệu quả; QCVN 16:2023/BXD điều chỉnh sản phẩm, hàng hóa VLXD; QCVN 02:2022/BXD cung cấp số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng. Đây là cơ sở để xem xét các yếu tố khí hậu, vỏ bao che, chiếu sáng, sử dụng năng lượng và chất lượng vật liệu.
Bên cạnh hệ thống quy chuẩn bắt buộc, nhiều tiêu chuẩn đã đề cập đến thiết kế nhà ở, thông gió, điều hòa không khí và chất lượng môi trường trong nhà. TCVN 4451:2012 quy định những nguyên tắc cơ bản để thiết kế nhà ở; TCVN 5687:2024 đưa ra yêu cầu thiết kế thông gió và điều hòa không khí; TCVN 13580:2023 và TCVN 13581:2023 điều chỉnh ống gió và nghiệm thu hệ thống thông gió, điều hòa không khí.
Chất lượng không khí trong nhà được đề cập tại TCVN 13521:2022 và bộ TCVN 10736. Các tiêu chuẩn này liên quan đến những thông số cần kiểm soát như: CO₂, CO, bụi PM2,5, PM10, hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, formaldehyde, nấm mốc, radon và độ ẩm. TCVN 10736-9:2023 đề cập phát thải hợp chất hữu cơ dễ bay hơi từ sản phẩm xây dựng và đồ nội thất; TCVN 10736-37:2023 hướng dẫn đo nồng độ khối lượng bụi PM2,5; TCVN 10736-40:2023 quy định về hệ thống quản lý chất lượng không khí trong nhà.
Theo TS Nguyễn Hồng Hải, NƠXH thường có diện tích được tối ưu và mật độ cư trú cao. Vì vậy, chất lượng không khí trong nhà cần được xem là yêu cầu tối thiểu về chất lượng sống, được kiểm soát từ thiết kế, nghiệm thu đến vận hành, thay vì chỉ được coi là một tiêu chí tiện nghi.
Thiếu bộ tiêu chí tích hợp và dữ liệu kiểm chứng
TS Nguyễn Hồng Hải cho rằng, mặc dù đã có nền tảng pháp lý và kỹ thuật, Việt Nam chưa có bộ tiêu chí tích hợp dành riêng cho NƠXH phát thải các-bon thấp. Các yêu cầu về năng lượng, chất lượng không khí, vật liệu và vận hành đang phân tán trong nhiều quy chuẩn, tiêu chuẩn chuyên ngành.
Khoảng trống đầu tiên là chưa có ngưỡng phát thải tính theo kgCO₂e/m² dành cho NƠXH và chưa có phương pháp so sánh thống nhất giữa các công trình. Do đó, việc xác định một dự án đạt mức phát thải các-bon thấp đến đâu còn thiếu căn cứ định lượng.
Đối với VLXD, Việt Nam còn thiếu hệ số phát thải nội địa, tuyên bố sản phẩm môi trường và dữ liệu sản phẩm có thể kiểm chứng. Việc đánh giá các-bon hàm chứa trong vật liệu và phát thải trong toàn bộ vòng đời công trình vì thế còn khó khăn.
Về sử dụng năng lượng, QCVN 04-3:2026/BXD đã tạo nền tảng chung nhưng cần có hướng dẫn phù hợp với đặc điểm NƠXH. Yêu cầu tiết kiệm năng lượng phải gắn với chi phí đầu tư và khả năng chi trả của người dân, tránh lựa chọn giải pháp làm tăng chi phí xây dựng nhưng hiệu quả vận hành chưa được kiểm chứng.
Đối với chất lượng không khí trong nhà, hệ thống TCVN đã có các thông số và phương pháp đánh giá cần thiết. Tuy nhiên, các yêu cầu này chưa được liên kết đầy đủ với quá trình thiết kế, nghiệm thu và theo dõi công trình sau bàn giao.
Một khoảng trống khác là chi phí vòng đời chưa được lượng hóa đầy đủ. Việc đánh giá dự án hiện chưa phản ánh rõ chi phí điện, nước, bảo trì và các khoản chi vận hành mà cư dân phải chịu trong thời gian sử dụng. Hoạt động đo lường, theo dõi và kiểm chứng phát thải sau khi công trình đi vào vận hành cũng còn hạn chế.
Những khoảng trống trên cho thấy, vấn đề cần xử lý không phải là thiếu hoàn toàn quy chuẩn, tiêu chuẩn, mà là thiếu sự liên kết giữa các yêu cầu hiện có, thiếu dữ liệu trong nước và thiếu công cụ kiểm chứng thống nhất.
Xây dựng khung tiêu chí ba tầng, thí điểm trước khi nhân rộng
Để khắc phục tình trạng trên, TS Nguyễn Hồng Hải đề xuất xây dựng khung tiêu chí NƠXH phát thải các-bon thấp theo ba tầng. Trong đó, tầng thứ nhất là yêu cầu tuân thủ bắt buộc. Dự án phải đáp ứng đầy đủ các QCVN hiện hành về quy hoạch, nhà chung cư, an toàn cháy, hạ tầng kỹ thuật, sử dụng năng lượng hiệu quả, khả năng tiếp cận và VLXD.
Tầng thứ hai là các yêu cầu khuyến khích nâng cao. Nội dung tập trung vào thiết kế thụ động, vỏ công trình, chiếu sáng, thông gió, chất lượng không khí trong nhà, sử dụng nước, quản lý chất thải và lựa chọn vật liệu phát thải thấp. Các yêu cầu cần được chuyển thành sổ tay và checklist để chủ đầu tư, đơn vị tư vấn, nhà thầu và cơ quan quản lý có thể áp dụng thống nhất.
Tầng thứ ba là thí điểm và định lượng. Các dự án được lựa chọn sẽ thực hiện tính toán phát thải các-bon trong toàn bộ vòng đời, xây dựng chỉ số so sánh theo kgCO₂e/m², đo chất lượng không khí sau bàn giao và theo dõi chi phí vận hành thực tế.
Cách tiếp cận này sử dụng hệ thống QCVN, TCVN hiện hành làm nền, sau đó bổ sung những chỉ số có thể đo được, kiểm chứng được và áp dụng được. Việc tích hợp các yêu cầu thành một bộ tiêu chí chung cũng phải tránh phát sinh thêm thủ tục không cần thiết.
Lộ trình được đề xuất chia thành ba giai đoạn. Trong giai đoạn 2026-2027, cần hoàn thiện sổ tay, checklist, lựa chọn dự án mẫu và tổ chức đo lường năng lượng, chất lượng không khí, vật liệu. Giai đoạn 2028-2030, sẽ tổng hợp kết quả thí điểm, xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải và các chỉ số so sánh. Sau năm 2030, các yêu cầu về phát thải các-bon thấp sẽ từng bước được tích hợp vào hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn và hướng dẫn chính thức.
TS Nguyễn Hồng Hải thông tin, IBST đang nghiên cứu, biên soạn và hoàn thiện một số tài liệu phục vụ quá trình này, gồm: (i) hướng dẫn thiết kế NƠXH phát thải các-bon thấp; (ii) sổ tay bê tông các-bon thấp; (iii) sổ tay VLXD các-bon thấp; (iv) dự thảo TCVN về tuyên bố sản phẩm môi trường đối với sản phẩm xây dựng; (v) dự thảo TCVN về đánh giá hiệu suất môi trường công trình theo phương pháp đánh giá vòng đời.
Theo đề xuất của IBST, trước mắt cần tập trung vào ba nhiệm vụ: (i) xây dựng bộ tiêu chí kỹ thuật NƠXH phát thải các-bon thấp trên cơ sở QCVN, TCVN hiện hành; (ii) tích hợp yêu cầu về chất lượng không khí vào thiết kế, nghiệm thu và vận hành; (iii) lựa chọn dự án mẫu để đo năng lượng, phát thải vật liệu, chất lượng không khí và chi phí vận hành.
Kết quả thí điểm là cơ sở để hiệu chỉnh yêu cầu kỹ thuật, hình thành dữ liệu trong nước, xác định các ngưỡng phù hợp rồi mới chuẩn hóa và nhân rộng. Đây là hướng tiếp cận nhằm phát triển NƠXH nhanh nhưng vẫn bảo đảm an toàn, chất lượng sống, chi phí vận hành hợp lý và mức giảm phát thải có thể kiểm chứng.

Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành đã tạo nền tảng cho thiết kế nhà ở xã hội bảo đảm chất lượng sống, nhưng các yêu cầu còn phân tán, thiếu dữ liệu phát thải và chưa có bộ tiêu chí đo lường mức độ phát thải các-bon thấp. 

