Hoàn thiện thể chế là điều kiện để thương mại hóa tín chỉ carbon rừng

09:00 05/05/2026
Trong lộ trình hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, carbon rừng được xem là lĩnh vực giàu tiềm năng của kinh tế xanh. Tuy nhiên, để thị trường này vận hành hiệu quả và tạo giá trị bền vững, Việt Nam cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế giao dịch và hệ thống tiêu chuẩn đồng bộ.
Hoàn thiện thể chế là điều kiện để thương mại hóa tín chỉ carbon rừng
Việc sớm hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường carbon rừng được kỳ vọng sẽ tạo cơ sở pháp lý đầy đủ để các địa phương chủ động tham gia thị trường carbon. Ảnh minh họa: IA tạo.

Carbon rừng, dư địa mới của kinh tế xanh

Với gần 15 triệu ha rừng và tỷ lệ che phủ duy trì trên 42% (Theo Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT ngày 31/3/2026 công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025), Việt Nam được đánh giá có tiềm năng lớn trong phát triển tín chỉ carbon rừng. Trong bối cảnh nhu cầu bù đắp phát thải trên thế giới ngày càng gia tăng, carbon rừng không chỉ mang ý nghĩa môi trường mà còn mở ra nguồn lực tài chính mới cho ngành lâm nghiệp và các địa phương sở hữu diện tích rừng lớn.

Thực tế cho thấy, Việt Nam đã bước đầu tham gia thị trường carbon quốc tế thông qua các thỏa thuận chuyển nhượng kết quả giảm phát thải. Điển hình là việc chuyển nhượng 10,3 triệu tấn CO₂ giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ theo Nghị định số 107/2022/NĐ-CP ngày 28/12/2022 của Chính phủ về thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ.

Sau thỏa thuận với Ngân hàng Thế giới, Việt Nam tiếp tục xúc tiến hợp tác với Tổ chức Tăng cường tài chính lâm nghiệp (Emergent - Cơ quan điều hành Liên minh LEAF). Theo Ý định thư (LOI), Việt Nam dự kiến chuyển nhượng 5,15 triệu tín chỉ carbon rừng tại khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ giai đoạn 2021 - 2025 với mức giá tối thiểu 10 USD/tín chỉ.

Song song với đó, khung chính sách cho phát triển thị trường carbon cũng đang từng bước được hoàn thiện. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã đặt nền tảng cho quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh và phát thải thấp.

Tiếp đó, Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 15/11/2017 đã quy định hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng là một trong các loại dịch vụ môi trường rừng. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, được Quốc hội thông qua ngày 17/11/2020, lần đầu tiên đưa ra quy định về tổ chức và phát triển thị trường carbon trong nước.

Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone, đồng thời xác lập lộ trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam. Đặc biệt, đầu năm 2026, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP quy định về sàn giao dịch carbon trong nước, tạo nền tảng cho việc vận hành thị trường carbon theo lộ trình đến năm 2029.

Điểm nghẽn lớn nhất là thiếu hành lang pháp lý đồng bộ

Dù tiềm năng lớn và khung chính sách bước đầu đã hình thành, thị trường carbon rừng tại Việt Nam hiện vẫn ở giai đoạn sơ khai. Theo các chuyên gia, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thiếu một hệ thống pháp lý đầy đủ và đồng bộ để thị trường vận hành minh bạch, hiệu quả.

Thực tế, hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng đã được quy định trong Luật Lâm nghiệp năm 2017, song nhiều năm qua lĩnh vực này vẫn chưa thể triển khai đồng bộ do thiếu cơ chế cụ thể về xác lập tín chỉ carbon, quản lý giao dịch, phương thức chi trả và phân chia nguồn thu.

Đây cũng là nội dung trọng tâm được đặt ra tại cuộc họp về xây dựng Nghị định quy định dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng và triển khai hợp đồng mua bán giảm phát thải với Tổ chức Emergent vừa diễn ra ngày 04//2026 dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng.

Theo Bộ NN&MT, thị trường carbon rừng không đơn thuần là hoạt động mua bán tín chỉ phát thải, mà liên quan trực tiếp đến công tác kiểm kê carbon, đo đạc hấp thụ phát thải, xác nhận tín chỉ, cơ chế sở hữu và phân chia lợi ích giữa Nhà nước, địa phương, chủ rừng và cộng đồng dân cư.

Một trong những vướng mắc lớn hiện nay là chưa có quy định rõ ràng về quyền sở hữu tín chỉ carbon rừng. Trong khi rừng có nhiều chủ thể quản lý khác nhau, từ Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng đến hộ dân, thì cơ chế xác định chủ sở hữu tín chỉ carbon phát sinh từ rừng vẫn chưa được làm rõ.

Bên cạnh đó, Việt Nam hiện cũng thiếu hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật thống nhất về đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh lượng carbon hấp thụ. Đây là điều kiện bắt buộc để tín chỉ carbon được quốc tế công nhận và có thể tham gia giao dịch trên thị trường toàn cầu.

Nhiều địa phương và chủ rừng cũng gặp khó khăn do thiếu năng lực kỹ thuật, thiếu kinh nghiệm xây dựng dự án carbon và chưa tiếp cận đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế về kiểm kê phát thải. Trong khi đó, các dự án carbon rừng thường đòi hỏi quy trình kỹ thuật phức tạp, thời gian triển khai kéo dài và chi phí lớn.

Theo giới chuyên gia, nếu chậm hoàn thiện hành lang pháp lý, Việt Nam không chỉ bỏ lỡ cơ hội phát triển kinh tế xanh mà còn hạn chế khả năng khai thác giá trị đa dụng của tài nguyên rừng trong bối cảnh thị trường carbon toàn cầu tăng trưởng mạnh.

Hoàn thiện thể chế để khai mở thị trường carbon rừng

Trong bối cảnh nhu cầu tín chỉ carbon toàn cầu tiếp tục gia tăng, việc xây dựng Nghị định quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng được xem là bước đi quan trọng nhằm thiết lập đầy đủ “luật chơi” cho thị trường mới này.

Theo dự thảo do Bộ NN&MT xây dựng, Nghị định sẽ quy định về đối tượng áp dụng, hình thức chi trả, xác định lượng kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng được cung ứng; đồng thời bổ sung cơ chế quản lý, sử dụng nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.

Một trong những nội dung đáng chú ý là định hướng phân cấp mạnh hơn cho địa phương trong quá trình xác nhận, quản lý và phát triển các dự án carbon rừng. Theo đó, các địa phương có thể chủ động hơn trong việc xây dựng hồ sơ, tổ chức triển khai dự án, thu hút doanh nghiệp và tiếp cận thị trường carbon quốc tế.

Đây được xem là hướng đi phù hợp trong bối cảnh nhiều tỉnh miền núi, Tây Nguyên và các địa phương có diện tích rừng lớn đang kỳ vọng tín chỉ carbon sẽ trở thành nguồn lực mới cho phát triển kinh tế xanh và sinh kế bền vững.

Tuy nhiên, cùng với phân cấp là yêu cầu kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo đảm tính minh bạch, tránh tình trạng thương mại hóa thiếu kiểm soát hoặc chồng lấn quyền lợi giữa các chủ thể tham gia thị trường.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, việc phân cấp phải đi đôi với cơ chế giám sát hiệu quả, đồng thời yêu cầu các bộ, ngành xây dựng đầy đủ hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để bảo đảm thị trường carbon rừng vận hành đúng quy định và phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam. Không chỉ dừng ở hoạt động giao dịch tín chỉ carbon, việc hoàn thiện khung pháp lý còn tạo nền tảng thúc đẩy quản lý rừng bền vững, nâng cao khả năng hấp thụ khí nhà kính và mở rộng không gian tăng trưởng xanh cho ngành lâm nghiệp.

Theo Quyết định số 208/QĐ-TTg ngày 29/02/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam định hướng khai thác hiệu quả các giá trị môi trường, cảnh quan, đa dạng sinh học và dịch vụ carbon rừng như một nguồn lực phát triển mới.

Trong xu thế chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu tất yếu, carbon rừng không chỉ là công cụ giảm phát thải mà còn là động lực thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp và nâng cao giá trị tài nguyên rừng trong dài hạn. Khi hành lang pháp lý được hoàn thiện đồng bộ, thị trường carbon rừng được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa cho tăng trưởng bền vững, đồng thời mở ra nguồn lực mới cho phát triển kinh tế xanh của Việt Nam trong giai đoạn tới.

Bình luận
Nhà ở xã hội SUNRISE HOME Ngọc Hồi Công ty Xe đạp Thống Nhất
  • Dự án Monrei Saigon Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam