Không quy định hạn mức chuyển mục đích sử dụng đất

07:05 17/02/2024
Pháp luật về đất đai không quy định hạn mức chuyển mục đích sử dụng đất, do đó trường hợp người sử dụng có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét trên cơ sở quy định của pháp luật.

Bà Lường Thị Phương Trang (Sơn La) đang làm thủ tục xin chuyển mục đích sử dụng 270 m² đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn. Nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng, giấy chứng nhận đứng tên cá nhân bà Trang và đã được UBND huyện ra quyết định cho phép chuyển mục đích.

Sau khi có quyết định, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai đã chuyển sang cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính và đã được cơ quan thuế xác định thuộc đối tượng được miễn tiền sử dụng đất căn cứ vào hồ sơ xin miễn tiền sử dụng đất theo quy định do bà Trang chưa được cấp giấy chứng nhận cũng như chuyển mục đích diện tích đất nào khác trên địa bàn tỉnh.

Diện tích xin chuyển mục đích nằm trong hạn mức (hạn mức đất ở tại vị trí là 300 m²). Mặt khác, bản của bà Trang là bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc.

Tuy nhiên, trường hợp của bà Trang bị vướng mắc do Văn phòng Đăng ký đất đai chưa xác định được diện tích bà xin chuyển mục đích là nằm ngoài hạn mức hay ngoài hạn mức giao đất ở, vì theo quy định chỉ nêu là hộ gia đình. Còn giấy chứng nhận của bà Trang là cấp cho cá nhân mà quy định không nói đến trường hợp cá nhân được cấp hạn mức bao nhiêu. Bà Trang đề nghị cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn tháo gỡ trường hợp của bà.

Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời vấn về này như sau:

Tại Điều 52 Luật Đất đai quy định về căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, gồm:

(1) Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

(2) Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

Tại điểm d khoản 1 Điều 57 Luật Đất đai quy định chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tại khoản 2 Điều 57 Luật Đất đai quy định khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 57 của Luật Đất đai thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng.

Pháp luật về đất đai không quy định hạn mức chuyển mục đích sử dụng đất, do đó trường hợp người sử dụng có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét trên cơ sở quy định của pháp luật, quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Bình luận