Kinh tế xây dựng

Kiểm soát giá và đảm bảo vật liệu xây dựng cho các dự án quan trọng quốc gia

Kiểm soát giá và đảm bảo vật liệu xây dựng cho các dự án quan trọng quốc gia

Huy Thảo Huy Thảo - 10:00, 02/11/2022

Tạp chí Xây dựng - Bộ xây dựngBộ Xây dựng đã giải quyết kịp thời kiến nghị của Bộ, ngành và các địa phương liên quan, hoàn thiện trình Chính phủ cơ chế đặc thù cấp phép các mỏ khoáng sản làm vật liệu xây dựng (VLXD) phục vụ công trình trọng điểm quốc gia.

Nguồn cung cơ bản đáp ứng yêu cầu dự án

Ngày 03-05/11, Bộ trưởng Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị sẽ trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực xây dựng, trong đó có nhóm vấn đề liên quan đến việc kiểm soát giá và đảm bảo nguồn nguyên, vật liệu để xây dựng các công trình, dự án, nhất là các dự án quan trọng quốc gia.

Báo cáo Quốc hội trước phiên chất vấn của Bộ trưởng Nguyễn Thanh Nghị cho biết, hiện nay nguồn cung tất cả các loại VLXD chủ yếu (Xi măng, gạch ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng, đá ốp lát) trong nước dồi dào, hoàn toàn đáp ứng nhu cầu sử dụng cho các công trình xây dựng trong nước và có một phần xuất khẩu.

Các loại VLXD thông thường (cát xây dựng, đá xây dựng, đất san lấp…) có nguồn cung phụ thuộc nhiều vào vùng cung cấp. Đây cũng là loại vật liệu chủ yếu phục vụ cho các công trình, dự án trọng điểm quốc gia.

Đánh giá về nhu cầu VLXD thông thường đối với một số dự án trọng điểm quốc gia, trong đó có dự án cao tốc Bắc - Nam giai đoạn 2, Bộ trưởng Nguyễn Thanh Nghị cho biết, theo báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải và các địa phương nơi có dự án đi qua, trữ lượng, công suất khai thác các mỏ khoáng sản làm VLXD thông thường (đá, cát, đất san lấp) đã cấp phép và đang hoạt động hiện nay cơ bản đáp ứng yêu cầu của dự án, một vài tỉnh thiếu nguồn cung đã được cân đối từ các tỉnh lân cận, trong đó nhu cầu đòi hỏi lớn nhất là khối lượng vật liệu sử dụng làm lớp nền, móng, mặt đường (đất san lấp).

Về đất san lấp, theo báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải và các địa phương nơi có Dự án đi qua thì dự án Cao tốc Bắc - Nam giai đoạn 2 có tổng chiều dài khoảng 729 km, nhu cầu của dự án khoảng hơn 59,5 triệu m³ đất san lấp (từ Hà Tĩnh đến Khánh Hòa). Còn lại các dự án đường cao tốc qua khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, theo tính toán cần khoảng 39 triệu m³.

Đối với dự án sân bay Long Thành được quy hoạch xây dựng trên diện tích 5.000 ha. Nhu cầu cát xây dựng khoảng 24 triệu m³, đá làm VLXD thông thường khoảng 50-60 triệu m³.

Về nguồn cung vật liệu xây dựng thông thường đối với một số dự án trọng điểm quốc gia, trong đó có nguồn vật liệu cho đường cao tốc Bắc - Nam, Bộ trưởng Nguyễn Thanh Nghị cho biết, đến nay Bộ Giao thông Vận tải cho chỉ đạo chủ đầu tư, tư vấn đã cơ bản hoàn thành việc khảo sát mỏ VLXD thông thường đã xác định 147 mỏ đất đắp nền đường với tổng trữ lượng khoảng gần 188 triệu m³ đáp ứng đủ nhu cầu của dự án Cao tốc Bắc Nam giai đoạn 2 từ Hà Tĩnh đến Khánh Hòa.

“Còn lại, khó khăn lớn nhất là các dự án đường cao tốc qua khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, do nguồn nguyên liệu khoáng sản ở khu vực này hạn chế; trữ lượng của các mỏ cát được cấp phép trong khu vực (An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, …) sẽ không đáp ứng được nhu cầu và còn thiếu khoảng 20 triệu m³ vật liệu đất đắp.

Nghị quyết 113 đã cơ bản tháo gỡ khó khăn về vật liệu làm cao tốc Bắc-Nam
Ảnh minh họa: Internet.

Bộ Giao thông Vận tải đã kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát lại quy hoạch mỏ cát sông trong khu vực này, nghiên cứu dự án dùng cát biển để đắp nền đường bảo đảm nguồn cung cấp cho các dự án, tăng cường kết hợp với sử dụng vật liệu thay thế” - Bộ trưởng Nguyễn Thanh Nghị đánh giá.

Đối với nguồn vật liệu cho Dự án sân bay Long Thành hiện nay, các địa phương lân cận dự án đã cân đối được khoảng 40 mỏ đá đang khai thác với tổng trữ lượng các mỏ khoảng 381 triệu m³, công suất khai thác hàng năm đạt khoảng 20 triệu m³, cơ bản đáp ứng đủ phuc vụ cho dự án.

Tăng cường vật sử dụng vật liệu thay thế

Tuy nhiên, sẽ khó khăn trong việc cung cấp sản lượng khai thác lớn trong thời gian ngắn, muốn đảm bảo nguồn cung cấp cho các dự án thì cần tăng cường kết hợp với sử dụng vật liệu thay thế.

Nhìn nhận về những khó khăn, vướng mắc, Bộ trưởng Nguyễn Thanh Nghị cho rằng, do nhu cầu sử dụng nguồn vật liệu tăng đột biến trong một thời gian ngắn, trong khi công suất khai thác của các mỏ đã được cấp thấp nên không đáp ứng được nhu cầu sử dụng.

Cùng đó, việc cấp phép, nâng công suất các mỏ khoáng sản thủ tục mất nhiều thời gian, dẫn đến nguồn cung vật liệu chậm đáp ứng nhu cầu thực tế.

“Có tình trạng chất lượng nguồn vật liệu đưa vào hồ sơ khảo sát chưa đạt tiêu chuẩn, dẫn đến khi triển khai thực tế nguồn cung nguyên liệu thiếu hụt. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 từ đầu năm 2021, giá của một số VLXD chủ yếu (như: thép, xi măng, cát, đá, sỏi, nhựa đường) có sự biến động lớn và thiết lập mặt bằng mới nhưng vẫn cao hơn 10-20% so với cuối năm 2020” – Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho biết.

Ở góc nhìn tổng thể về trách nhiệm, Bộ Xây dựng đã giải quyết kịp thời kiến nghị của Bộ, ngành và các địa phương liên quan, hoàn thiện trình Chính phủ cơ chế đặc thù cấp phép các mỏ khoáng sản làm VLXD phục vụ công trình trọng điểm quốc gia.

Kịp thời, trách nhiệm trong việc tham gia ý kiến đối với việc điều chỉnh, bổ sung các mỏ khoáng sản để địa phương có cơ sở cấp phép sớm các mỏ khoáng sản làm VLXD phục vụ công trình trọng điểm quốc gia.

Đồng thời, xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật, các chủng loại VLXD, vật liệu thay thế góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng để phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia.

“Đề xuất các giải pháp, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra các địa phương công bố giá vật liệu, chỉ số giá xây dựng để điều chỉnh, bổ sung kịp thời phục vụ quản lý chi phí đầu tư xây dựng theo đúng quy định.

Đôn đốc các địa phương thường xuyên tổ chức kiểm tra, quản lý việc khai thác, kinh doanh đảm bảo đáp ứng nguồn cung và đúng giá niêm yết, công bố trên thị trường, bình ổn thị trường vật liệu xây dựng, chống đầu cơ, tăng giá bất hợp lý ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình trọng điểm” – Bộ trưởng Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh.

 

Ý kiến của bạn