Kiến tạo cực tăng trưởng mới của vùng Đồng bằng sông Hồng

07:00 29/07/2026
Không chỉ hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030, Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh còn mở ra một cấu trúc phát triển mới với 3 phân vùng, 4 hành lang và 6 cụm động lực.

Việc hợp nhất không gian phát triển của Bắc Ninh và Bắc Giang đã tạo nên một địa bàn có quy mô lớn hơn về diện tích, dân số, kinh tế và hệ thống đô thị. Bắc Ninh hiện nay vừa sở hữu nền công nghiệp điện tử phát triển, vừa có lợi thế về nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch sinh thái, văn hóa và hệ thống giao thông liên vùng.

Tỉnh Bắc Ninh từ mô hình phát triển dựa chủ yếu vào các khu công nghiệp tập trung chuyển sang cấu trúc đô thị đa cực, đa trung tâm, trong đó công nghiệp công nghệ cao, logistics, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và văn hóa trở thành những động lực tăng trưởng có tính bổ trợ lẫn nhau.

Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1389/QĐ-TTg ngày 23/7/2026 đã cụ thể hóa định hướng này.

Mục tiêu của Quy hoạch không chỉ là hoàn thiện các tiêu chí đô thị loại I và xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương, mà còn kiến tạo hình mẫu đô thị thông minh, văn minh, hiện đại, giàu bản sắc văn hóa Kinh Bắc, có khả năng cạnh tranh trong nước và khu vực.

Phát triển mô hình đô thị đa cực

Trong cấu trúc phát triển mới, Bắc Ninh được tổ chức theo 3 phân vùng, phản ánh sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, hạ tầng, kinh tế và bản sắc của từng khu vực.

Vùng phát triển công nghiệp - đô thị trung tâm gồm: Từ Sơn, Tiên Du, Kinh Bắc, Yên Phong, Quế Võ, Bắc Giang, Hiệp Hòa và các không gian liên kết; đây là vùng động lực chủ yếu về công nghiệp công nghệ cao, điện tử, bán dẫn…

Bắc Ninh hoàn thiện các tiêu chí đô thị loại I và xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương. Nguồn VGP.

Với nền tảng công nghiệp đã hình thành, đồng thời được định hướng chuyển dịch từ gia công, lắp ráp sang các ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn như sản xuất vi mạch, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, thiết bị bay không người lái, công nghiệp hàng không và nghiên cứu - phát triển.

Vùng phát triển thương mại, dịch vụ và logistics phía Nam sông Đuống, với hạt nhân Gia Thuận, được tổ chức gắn với Cảng hàng không quốc tế Gia Bình có vai trò chiến lược trong phát triển đô thị hàng không, thương mại quốc tế và logistics hàng không, đồng thời tạo ra một cửa ngõ kết nối mới giữa Bắc Ninh với Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và các hành lang kinh tế liên vùng.

Vùng phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp phía Đông gồm Lục Ngạn, Sơn Động, Tây Yên Tử và các không gian liên kết giữ vai trò bảo tồn hệ sinh thái, phát triển nông nghiệp hàng hóa, lâm nghiệp bền vững, kinh tế rừng và du lịch sinh thái, tín ngưỡng.

Việc phân vùng không nhằm chia tách không gian phát triển mà tạo ra sự chuyên môn hóa tương đối giữa các khu vực. Công nghiệp công nghệ cao, logistics và dịch vụ tập trung ở vùng trung tâm và phía Nam; trong khi phía Đông phát huy lợi thế về nông nghiệp, cảnh quan, tài nguyên rừng và du lịch.

Các khu vực này được kết nối bởi 4 hành lang phát triển chủ đạo, gắn với hệ thống cao tốc, quốc lộ, đường vành đai, đường sắt liên vận và đường sắt tốc độ cao.

Hành lang Bắc - Nam kết nối Lạng Sơn, Lạng Giang, Bắc Giang, Bắc Ninh, Từ Sơn và Hà Nội, tạo trục phát triển công nghiệp và đô thị quan trọng giữa cửa khẩu phía Bắc với vùng Thủ đô.

Hành lang Đông - Tây phía Nam sông Cầu và Bắc sông Đuống kết nối Sóc Sơn, Yên Phong, Tiên Du, Kinh Bắc, Quế Võ và Chí Linh, gắn với QL18 và đường vành đai 4 vùng Thủ đô.

Hành lang Đông - Tây phía Nam sông Đuống liên kết Đông Anh, Gia Thuận, Hải Dương và Hạ Long thông qua tuyến đường kết nối Cảng Hàng không quốc tế Gia Bình và đường sắt tốc độ cao.

Cùng với đó, vành đai công nghiệp - đô thị liên kết vùng Thủ đô được hình thành trên cơ sở các tuyến vành đai 4, vành đai 4,5, Vành đai 5 và hệ thống đường tỉnh, quốc lộ, tạo điều kiện phân bố lại công nghiệp, dịch vụ và các khu đô thị mới.

Trên nền tảng đó, Quy hoạch xác định 6 cụm trung tâm động lực gồm Kinh Bắc - Bắc Giang - Quế Võ; Yên Phong - Hiệp Hòa; đô thị hạt nhân Gia Thuận; Từ Sơn - Tiên Du; Lạng Giang - Lục Nam; Lục Ngạn - Sơn Động.

Mỗi cụm động lực sẽ đảm nhận một vai trò riêng nhưng có sự kết nối trong chuỗi giá trị chung của toàn tỉnh.

Đô thị loại I là bước chuyển trong lộ trình phát triển

Cùng với việc phê duyệt Quy hoạch chung, Bắc Ninh đang hoàn thiện Đề án đề nghị công nhận tỉnh đạt tiêu chí đô thị loại I.

Theo đề án, phạm vi nghiên cứu Đề án là toàn bộ tỉnh Bắc Ninh sau hợp nhất, có diện tích tự nhiên 4.713,75km², quy mô dân số khoảng 3,989 triệu người năm 2025. Hệ thống đô thị hiện hữu gồm 25 đô thị, trong đó có 3 đô thị loại II là Kinh Bắc, Bắc Giang và Từ Sơn; 22 đô thị loại III được chuyển tiếp từ các đô thị loại IV và loại V; tỷ lệ đô thị hóa đạt 61,63%.

Đối chiếu với các tiêu chuẩn tại Nghị q uyết số 111/2025/UBTVQH15 về phân loại đô thị, Bắc Ninh hiện đạt 12/15 tiêu chuẩn của đô thị loại I. Ba tiêu chuẩn chưa đáp ứng đã được địa phương đưa vào chương trình công tác để tiếp tục đầu tư, hoàn thiện.

Sơ đồ định hướng phát triển không gian toàn đô thị Bắc Ninh.

Tại Hội nghị thẩm định liên ngành Đề án đề nghị công nhận tỉnh Bắc Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I, Hội đồng thẩm định liên ngành thống nhất đánh giá Đề án cơ bản đáp ứng các tiêu chí đô thị loại I. Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Tường Văn khẳng định, việc lập Đề án là cần thiết, có đầy đủ căn cứ pháp lý, phù hợp với quy hoạch và chương trình phát triển đô thị của quốc gia và địa phương.

Việc được công nhận đạt tiêu chí đô thị loại I không chỉ mang ý nghĩa nâng cấp về mặt hành chính. Đây còn là cơ sở để Bắc Ninh xây dựng mô hình quản trị đô thị thống nhất, hiện đại, đủ năng lực điều phối phát triển không gian, đầu tư hạ tầng, quản lý đất đai, bảo vệ môi trường và cung cấp dịch vụ đô thị chất lượng cao.

Trong bối cảnh quy mô dân số lớn, mật độ đô thị cao, các khu công nghiệp và trung tâm logistics phát triển nhanh, mô hình quản lý phân tán sẽ khó đáp ứng yêu cầu điều phối liên vùng và xử lý những vấn đề vượt khỏi phạm vi từng địa phương cấp xã.

Do đó, mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030 được đặt trong một lộ trình gồm nhiều bước liên thông: Hoàn thiện Quy hoạch chung, công nhận tiêu chí đô thị loại I, phát triển hệ thống hạ tầng, nâng cao các tiêu chuẩn còn thiếu và kiện toàn mô hình chính quyền đô thị.

Công nghiệp và logistics tạo động lực tăng trưởng mới

Công nghiệp tiếp tục được xác định là động lực chính của Bắc Ninh, nhưng cấu trúc ngành được định hướng thay đổi căn bản. Quy hoạch dự kiến hệ thống khu công nghiệp có tổng diện tích khoảng 25.000 ha, đồng thời từng bước chuyển đổi các khu hiện hữu sang mô hình khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ thế hệ mới.

Thay vì mở rộng sản xuất dựa vào gia công, lắp ráp và lao động giá rẻ, Bắc Ninh hướng tới các ngành công nghiệp có hàm lượng KHCN cao và đổi mới sáng tạo. Trọng tâm là công nghiệp bán dẫn, vi mạch, trí tuệ nhân tạo, cơ khí chính xác, thiết bị bay không người lái và công nghiệp hàng không gắn với Cảng hàng không quốc tế Gia Bình.

Định hướng này phù hợp với vai trò của Bắc Ninh trong Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng, nơi địa phương được xác định là một bộ phận của trung tâm công nghiệp vùng Thủ đô, phát triển thành trung tâm công nghiệp chế tạo hiện đại hàng đầu cả nước trong các lĩnh vực điện tử, công nghệ thông tin, sản xuất chip và linh kiện bán dẫn.

Bắc Ninh hướng tới các ngành công nghiệp có hàm lượng KHCN cao và đổi mới sáng tạo. Nguồn ITN.

Song song với hệ thống khu công nghiệp, khoảng 6.000 - 6.500 ha đất được định hướng dành cho các cụm công nghiệp. Các cụm công nghiệp từng bước chuyển đổi theo hướng xanh, có hệ thống xử lý nước thải tập trung, quan trắc tự động, ưu tiên công nghiệp hỗ trợ, cơ khí chính xác và chế biến sâu nông sản tại khu vực phía Đông.

Ba cực logistics chính được xác định gồm Quế Võ, Gia Bình và Kép, Quế Võ phát triển logistics gắn với đường thủy nội địa và cảng cạn; Gia Bình tập trung logistics hàng không; Kép khai thác lợi thế đường sắt liên vận quốc tế.

Hệ thống cảng cạn và ICD vệ tinh được bố trí để thu gom, phân phối hàng hóa từ các vùng công nghiệp, giảm áp lực cho giao thông đường bộ và tăng khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế lớn.

Quy hoạch cũng đặt vấn đề nghiên cứu phát triển khu thương mại tự do gắn với Cảng Hàng không quốc tế Gia Bình, cùng các dịch vụ thương mại quốc tế, logistics và cảng cạn gắn với tuyến đường sắt liên vận Kép - Đồng Đăng.

Nếu được triển khai đồng bộ, mạng lưới này sẽ giúp Bắc Ninh không chỉ là nơi sản xuất mà còn tham gia sâu hơn vào các khâu nghiên cứu, thiết kế, logistics, phân phối và dịch vụ của chuỗi cung ứng.

Đây cũng là điều kiện để địa phương giảm dần phụ thuộc vào một số doanh nghiệp lớn, nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước và hình thành hệ sinh thái công nghiệp công nghệ cao có khả năng lan tỏa sang các địa phương trong vùng.

Tăng trưởng phải đi cùng chất lượng đô thị

Mục tiêu trở thành cực tăng trưởng mới của vùng đồng bằng sông Hồng không chỉ được đo bằng tốc độ tăng GRDP, số lượng khu công nghiệp hay quy mô thu hút đầu tư.

Thách thức lớn hơn đối với Bắc Ninh là chuyển tăng trưởng công nghiệp thành chất lượng sống đô thị, chất lượng môi trường và khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân.

Trong quá trình thẩm định Đề án đô thị loại I, các cơ quan chuyên môn đã đề nghị tỉnh ưu tiên đầu tư NƠXH, công trình xử lý môi trường, nước thải, cây xanh đô thị, bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quốc gia; đồng thời chỉnh trang kiến trúc, cảnh quan và phát triển cây xanh trong các khu công nghiệp.

Sơ đồ phân vùng kiến trúc cảnh quan.

Đây là những yêu cầu có ý nghĩa trực tiếp đối với một địa phương có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh. Nếu hạ tầng xã hội, giao thông, nhà ở, y tế và môi trường không được đầu tư tương xứng, quá trình tăng trưởng có thể tạo ra sức ép lớn lên các đô thị hạt nhân.

Quy hoạch vì vậy đặt ra yêu cầu phát triển đô thị xanh, tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng dụng công nghệ số trong quản lý và hướng tới phát thải ròng bằng “0”.

Bên cạnh công nghiệp và đô thị, không gian văn hóa Kinh Bắc, Tây Yên Tử, Lục Ngạn, Sơn Động, Yên Thế và các vùng sinh thái phía Đông được xem là thành phần quan trọng trong cấu trúc phát triển cân bằng.

Bắc Ninh định hướng trở thành điểm đến du lịch văn hóa - lịch sử hàng đầu miền Bắc, lấy công nghiệp văn hóa và du lịch sáng tạo làm động lực đột phá; đồng thời phát triển du lịch sinh thái, cộng đồng, nông nghiệp, hội nghị, triển lãm và sự kiện.

Các không gian du lịch trọng điểm gồm Tây Yên Tử, không gian văn hóa Kinh Bắc, khu vực Lục Ngạn - Sơn Động gắn với hồ Cấm Sơn, Khuôn Thần và không gian sinh thái, cách mạng Tân Yên - Yên Thế.

Việc kết hợp các vùng công nghiệp hiện đại với không gian văn hóa, sinh thái và nông nghiệp không chỉ giúp đa dạng hóa cơ cấu kinh tế mà còn tạo nên bản sắc riêng của đô thị Bắc Ninh trong tương lai.

Để những mục tiêu này trở thành hiện thực, yêu cầu quan trọng nhất là bảo đảm sự thống nhất giữa quy hoạch, chương trình phát triển đô thị và kế hoạch đầu tư hạ tầng. Các khu công nghiệp, đô thị, trung tâm logistics, sân bay và hệ thống giao thông liên vùng cần được triển khai theo đúng trình tự, tránh phát triển phân tán hoặc gây quá tải cho hạ tầng hiện hữu.

Với cấu trúc 3 phân vùng, 4 hành lang và 6 cụm động lực, Bắc Ninh đang hình thành một mô hình phát triển có khả năng khai thác đồng thời các lợi thế về công nghiệp, logistics, đô thị, văn hóa và sinh thái.

Đây là để Bắc Ninh đảm nhận vai trò lớn hơn trong mạng lưới đô thị quốc gia: một cực tăng trưởng công nghiệp công nghệ cao, trung tâm kết nối vùng và không gian văn hóa đặc sắc của đồng bằng sông Hồng.

Theo định hướng đến năm 2030, Bắc Ninh phấn đấu đạt tiêu chí đô thị loại I và trở thành thành phố trực thuộc Trung ương; đồng thời trở thành cực tăng trưởng kinh tế của miền Bắc và cả nước, trung tâm công nghiệp điện tử, bán dẫn, vi mạch và trí tuệ nhân tạo hàng đầu khu vực.

Đến năm 2040, địa phương hướng tới nền kinh tế cân bằng hơn giữa công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ và logistics, với hệ thống đô thị được vận hành dựa trên đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Đến năm 2050, Bắc Ninh đặt mục tiêu trở thành thành phố đáng sống, đạt đẳng cấp khu vực châu Á, là hình mẫu về kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.

Tầm nhìn đến năm 2075, Bắc Ninh trở thành đô thị lớn, thịnh vượng, phát triển bền vững, có khả năng dung nạp trên 10 triệu dân, với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại.

Bình luận
Công ty IDECO Công ty Cổ phần cảng Nghệ Tĩnh Trung tâm dạy nghề tư thục Tùng Linh Công ty portcoast Công ty Xe đạp Thống Nhất
  • Dự án Monrei Saigon Thành phố thuỷ liệu đầu tiên tại Việt Nam