Kiến tạo diện mạo một quốc gia hùng cường
Bước vào năm 2026, nhìn lại chặng đường đã qua và hướng tới mục tiêu 2030 - 2045, chúng ta thấy, ngành Xây dựng không chỉ đóng vai trò là một ngành kinh tế kỹ thuật đơn thuần, mà chính là những "người thợ kiến thiết" tạo diện mạo và nền tảng vật chất cho một quốc gia hùng cường.
Nhìn lại năm 2025 và cả giai đoạn 2021 - 2025, có thể thấy, nhiều dấu mốc rất đặc biệt đối với Bộ Xây dựng. Đặc biệt là từ ngày 01/3/2025, Bộ Giao thông vận tải và Bộ Xây dựng được hợp nhất thành một Bộ Xây dựng mới, với phạm vi quản lý nhà nước được mở rộng. Việc hợp nhất này không chỉ là thay đổi về tổ chức bộ máy, mà còn là yêu cầu rất cao về đổi mới tư duy quản lý, tinh gọn tổ chức, xóa bỏ chồng chéo, bảo đảm quản lý thống nhất, xuyên suốt, không để xảy ra khoảng trống pháp lý trong bất kỳ lĩnh vực nào. Ước tính, tăng trưởng ngành Xây dựng đạt trên 9%, đóng góp khoảng 17,1% trong GDP tương đương khoảng 1,96 điểm % vào tăng trưởng GDP cả nước.
Trước hết, việc sửa đổi và thông qua 4 luật quan trọng trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV như Luật Đường sắt; Luật Xây dựng; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn; Quốc hội thông qua 5 Nghị quyết về chủ trương đầu tư 5 dự án và Chính phủ thông qua 10 đề án quan trọng khác, đặc biệt như chủ trương đầu tư và cơ chế đặc thù đầu tư đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam; khởi công dự án thành phần 1 thuộc dự án Đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng… đã tạo ra một hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch và hiệu quả hơn cho việc phát triển cơ sở hạ tầng quốc gia, không chỉ giúp đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm mà còn nâng cao chất lượng đầu tư, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Riêng trong năm 2025, với việc hoàn thành 134 văn bản quy phạm pháp luật, đã cắt giảm hơn 30% thủ tục hành chính, cắt giảm 35% điều kiện đầu tư kinh doanh, vượt chỉ tiêu đề ra tại Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 và 2026; kịp thời thể chế hóa các Nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị như Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW…, chuyển từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển” với nhiều nội dung đổi mới, đột phá, tác động mạnh mẽ đến phát triển cơ sở hạ tầng quốc gia, tăng cường phân cấp, phân quyền, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, bảo đảm chính sách an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề bất cập từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Chưa bao giờ trong lịch sử, diện mạo hạ tầng của Việt Nam lại thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ như vậy. Nhìn lại năm 2025 và cả nhiệm kỳ 2021 - 2025, đây là giai đoạn có nhiều bước đột phá đối với kết cấu hạ tầng - theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Có thể thấy, vượt qua những khó khăn, thách thức chung của nền kinh tế, với “quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt”, với truyền thống "đi trước mở đường", toàn ngành Xây dựng đã góp phần hoàn thành nhiều công trình lớn, quan trọng, có ý nghĩa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cả nước.
Chúng ta đã chứng kiến sự lớn mạnh vượt bậc của các tập đoàn xây dựng trong nước. Những dự án đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nhất như hầm xuyên núi, cầu dây văng nhịp lớn hay nhà cao tầng top đầu thế giới giờ đây đều có dấu ấn đậm nét của kỹ sư Việt Nam.
Năm 2025 có thể coi là một dấu mốc đặc biệt, khi lần đầu tiên cả nước tổ chức đồng loạt 3 đợt khởi công, khánh thành với hơn 560 công trình, dự án, tổng mức đầu tư trên 5 triệu tỷ đồng. Các dự án đều mang tính chiến lược, tạo không gian phát triển mới, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đồng thời cải thiện trực tiếp đời sống người dân
Đây là minh chứng sinh động cho quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong việc thúc đẩy đầu tư, coi phát triển kết cấu hạ tầng là nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
Đáng chú ý, trong tổng vốn đầu tư, khu vực tư nhân chiếm gần 75%, cho thấy niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường đầu tư và vai trò dẫn dắt của Nhà nước.
Năng lực thiết kế và thi công của chúng ta không còn dừng lại ở mức “làm thuê” mà đã tiến tới làm chủ công nghệ và bắt đầu vươn tầm ra thị trường quốc tế.
Kết quả là, đến hết năm 2025, cả nước có 3.345 km tuyến chính đường cao tốc và 458 km nút giao, đường dẫn được đưa vào khai thác... Riêng giai đoạn 2021 - 2025 đã hoàn thành, thông xe 2.025 km đường cao tốc, gấp gần 2 lần số km đường cao tốc có được trong 20 năm trước đây.
Tổng năng lực hệ thống cảng biển tăng gần 1,3 lần so với năm 2020 (từ 730 triệu tấn lên 900 triệu tấn).
Tổng công suất các cảng hàng không tăng hơn 1,6 lần so với năm 2020 (từ 92,4 triệu khách lên 155 triệu khách).
Những kết quả này đã giúp giảm chi phí logistics từ 21% vào năm 2018, đến nay còn khoảng 17% GDP, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bên cạnh đó, hệ thống sân bay đã và đang được tập trung đầu tư, nâng cấp hoàn thiện, như: Sân bay Long Thành, Gia Bình, Phú Quốc..., hoàn thành nhà ga T2 Nội Bài, nhà ga T3 Tân Sơn Nhất...;
Hệ thống đường sắt quốc gia (đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, đường sắt kết nối đối ngoại, kết nối cảng biển, sân bay...), hệ thống đường sắt đô thị tại Hà Nội, TP.HCM đang được tích cực đẩy mạnh triển khai.
Hạ tầng đô thị, nhà ở, hạ tầng kỹ thuật - xã hội phát triển nhanh hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp không gian đô thị được mở rộng, mở ra các cực tăng trưởng mới.
So với thời điểm năm 2020, tỷ lệ đô thị hóa đến nay đạt 45% (tăng 5%); Dân cư đô thị được cấp nước sạch đạt 94% (tăng 3%); Diện tích nhà ở bình quân đạt 30 m² sàn/người (tăng 5,6 m²).
Cả nước đã triển khai hơn 682.000 căn nhà ở xã hội, chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát được hơn 334.200 căn. Đây là các “Công trình Quốc gia đặc biệt”, “Công trình của ý Đảng, lòng Dân”.
Bước đầu hình thành nền tảng cho hạ tầng xanh, hạ tầng số, hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, với các mô hình đô thị thông minh, giao thông thông minh, công trình xanh, vật liệu xanh.
Qua đó, góp phần cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và tiến tới trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Những kết quả trên là nền tảng vững chắc để ngành Xây dựng tự tin bước vào kỷ nguyên mới.
Dù hào quang của những công trình rất lớn, nhưng ngành Xây dựng đang phải đối mặt với những cơn “gió ngược” đầy khắc nghiệt.
Bối cảnh mới đặt ra yêu cầu mới, chúng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng, phát triển kết cấu hạ tầng còn những bất cập: Tính đồng bộ và liên kết vùng chưa cao; quy hoạch hạ tầng chưa thực sự đi trước một bước; nhiều đô thị lớn còn ùn tắc, quá tải hạ tầng; nguồn lực đầu tư còn phân tán; chưa phát huy đầy đủ các mô hình đầu tư; chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong quản lý và phát triển hạ tầng còn chậm so với yêu cầu mới. Khi thế giới đang chuyển mạnh sang kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn; khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản cách thức đầu tư, xây dựng và vận hành hạ tầng; Thì, phát triển kết cấu hạ tầng trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dừng lại ở “bê tông hóa”, mà phải chuyển mạnh sang “thông minh hóa” và “xanh hóa”, lấy hiệu quả tổng thể, phát triển bền vững và nâng cao chất lượng sống của người dân làm mục tiêu xuyên suốt.
Trên tinh thần đó, khi xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, Đảng ủy và lãnh đạo Bộ Xây dựng xác định trọng tâm xuyên suốt là: Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng quốc gia đồng bộ, hiện đại, thông minh, xanh; tập trung nguồn lực Trung ương cho các công trình hạ tầng chiến lược, dự án trọng điểm quốc gia; đồng thời đổi mới mạnh mẽ cơ chế huy động và sử dụng nguồn lực xã hội.
Theo đó, Bộ sẽ tập trung hoàn thiện thể chế chính sách pháp luật; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương; nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu tư xây dựng; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ nâng cao chất lượng quản lý dự án và quản lý chất lượng công trình, kiên quyết không vì áp lực tiến độ mà đánh đổi chất lượng, an toàn và hiệu quả lâu dài của công trình.
Về triển khai đầu tư, Bộ Xây dựng ưu tiên các nhóm dự án hạ tầng có tính chất chiến lược, lan tỏa và liên vùng, tập trung hình thành bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia đồng bộ, hiện đại. Trọng tâm là hoàn thiện và nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống đường bộ cao tốc Bắc - Nam, các trục giao thông quan trọng có vai trò kết nối quốc gia; đồng thời phối hợp, hướng dẫn và hỗ trợ các địa phương trong việc đầu tư các tuyến kết nối vùng, đường vành đai đô thị lớn theo quy hoạch được phê duyệt, bảo đảm tính đồng bộ, liên thông và hiệu quả khai thác của toàn mạng lưới.
Bộ Xây dựng tiếp tục đề xuất các chính sách đa dạng hóa, huy động hiệu quả các nguồn lực đầu tư, kết hợp hài hòa giữa ngân sách nhà nước với các hình thức đối tác công tư (PPP), vốn ODA, vốn vay ưu đãi và các nguồn lực xã hội khác…
Với cách tiếp cận đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế - tập trung đầu tư có trọng tâm - huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực - nâng cao chất lượng quản lý, Bộ Xây dựng quyết tâm cùng các bộ, ngành, địa phương hiện thực hóa mục tiêu đột phá về phát triển kết cấu hạ tầng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Chính phủ, qua đó tạo động lực tăng trưởng, nâng cao chất lượng sống của người dân và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn tới.
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đòi hỏi ngành Xây dựng phải thực hiện một cuộc cách mạng tự thân. Đó không chỉ là việc nâng cao năng suất, mà là thay đổi tư duy: Từ xây dựng các công trình riêng lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái sống bền vững; từ cạnh tranh nội địa sang chinh phục thị trường toàn cầu.
Mỗi viên gạch đặt xuống hôm nay phải mang trong mình tầm nhìn của trăm năm sau. Với truyền thống vượt khó đi trước mở đường và khát vọng cháy bỏng, ngành Xây dựng Việt Nam chắc chắn sẽ hoàn thành sứ mệnh làm nền tảng vững chãi cho con tàu Việt Nam rẽ sóng ra khơi, tạo lập vị thế trong kỷ nguyên mới.










