Biến nghị quyết thành hành động cụ thể
Phát biểu tại Hội nghị triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ, diễn ra sáng 08/9, tại Bộ Xây dựng, Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh: KHCN, đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế toàn cầu, mà là nền tảng bắt buộc để ngành Xây dựng hiện đại hóa hạ tầng, đáp ứng tốc độ đô thị hóa cao và yêu cầu phát triển xanh – thông minh – bền vững.
Điểm mới quan trọng trong phát biểu của Bộ trưởng là sự chuyển hướng từ khẳng định “động lực” sang yêu cầu hành động cụ thể. Ngành Xây dựng không thể dừng ở khẩu hiệu, mà phải tập trung vào 3 trụ cột:
(i) Giải mã và Việt Nam hóa công nghệ: nhanh chóng tiếp nhận, làm chủ và thích ứng các công nghệ tiên tiến của thế giới trong khảo sát, thiết kế, thi công, vận hành công trình.
(ii) Báo cáo định kỳ và giám sát chặt chẽ: các đơn vị trong ngành phải hằng tháng tổng hợp kết quả nghiên cứu, ứng dụng, chuyển đổi số gửi Bộ Xây dựng, tạo kỷ luật thực thi.
(iii) Mở rộng hợp tác quốc tế và trong nước: coi đây là kênh quan trọng để tiếp cận tri thức, nguồn lực, đồng thời gắn kết với doanh nghiệp mạnh trong và ngoài ngành để giải quyết “bài toán lớn”.
Cùng với đó, Bộ trưởng Trần Hồng Minh đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm: (i) rà soát, sửa đổi thể chế để tháo gỡ điểm nghẽn; (ii) ưu tiên các chương trình trọng điểm có tính lan tỏa giai đoạn 2025-2030; (iii) phát triển nhân lực KHCN–ĐMST&CĐS; (iv) và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện từ xây dựng quy chuẩn – tiêu chuẩn tới quản lý dự án, thiết kế, thi công, nghiệm thu, vận hành.
Case study tiên phong trong ứng dụng KHCN và CĐS
Tại Hội nghị, TS Phan Hữu Duy Quốc - Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty Xây dựng số 1 (CC1), trong bài trình bày tham luận, đã chia sẻ: CC1 xác định hai mục tiêu chiến lược: nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng đến phát triển bền vững.
CC1 đồng thời xác định 6 định hướng lớn của doanh nghiệp bao gồm: (i) giảm thiểu tác động môi trường; (ii) tiết kiệm tài nguyên và vật liệu; (iii) tăng năng suất, giảm phụ thuộc lao động thủ công; (iv) khai thác dữ liệu và công cụ số trong quản lý; (v) giảm chi phí vòng đời công trình; (vi) và ứng dụng thành tựu công nghệ tiên tiến nhất.
Trong thực tiễn, CC1 đã triển khai một số mô hình cụ thể như: Nền tảng Geodata cho phép chia sẻ, lưu trữ và tra cứu dữ liệu địa chất phục vụ thiết kế, thi công, quản lý. Đây là bước đi quan trọng để minh bạch dữ liệu, tránh lãng phí và phục vụ lợi ích chung.
Hợp tác nghiên cứu cầu cạn với sự tham gia của 9 đơn vị, thể hiện cách tiếp cận liên ngành, liên danh, liên kết giữa các doanh nghiệp để phát triển công nghệ mới và ứng dụng vào dự án quy mô lớn.
TS Phan Hữu Duy Quốc cũng đưa ra nhiều đề xuất đáng chú ý như: (i) ban hành chính sách khuyến khích áp dụng công nghệ mới trong dự án đầu tư công, đồng thời chia sẻ rủi ro với nhà thầu; (ii) xây dựng định mức mới phù hợp công nghệ hiện đại, tránh biến định mức cũ thành rào cản; (iii) khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp xây dựng lớn và doanh nghiệp công nghệ dưới sự hỗ trợ của cơ quan quản lý; (iv) đào tạo, tập huấn để hình thành tư duy số; (v) áp dụng cơ chế đấu thầu kết hợp điểm kỹ thuật và giá thầu; (vi) và cho phép áp dụng Value Engineering (VE) trong dự án đầu tư công để tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng.
Từ định hướng của Bộ trưởng Trần Hồng Minh đến tham luận của CC1 có thể thấy một điểm chung: ngành Xây dựng đã bước sang giai đoạn thực thi hành động, trong đó KHCN, ĐMST và CĐS vừa là nền tảng, vừa là công cụ.
Nếu chủ trương và chính sách tạo ra hành lang, thì chính các mô hình doanh nghiệp tiên phong sẽ là minh chứng cụ thể, góp phần hiện thực hóa mục tiêu hiện đại hóa hạ tầng, phát triển xanh - thông minh - bền vững.

Nghị quyết 57-NQ/TW và 71/NQ-CP khẳng định KHCN, ĐMST & CĐS là động lực phát triển, yêu cầu hành động thực chất. Để hiện thực hóa, ngành Xây dựng chuyển chủ trương thành giải pháp cụ thể, doanh nghiệp đi đầu ứng dụng công nghệ vào thực tiễn dự án. 

